Updated Tue, 16.05.2005

Giới thiệu

Khoa - Trung tâm

Khoa học - Công nghệ

Dạy và Học

Cơ sở đào tạo

 

Khoa Kiến trúc

Khoa Quy hoạch

Khoa Xây dựng

Khoa Đô thị

Khoa Ðào tạo TĐH

Khoa QL Đô thị

Trung tâm Ngoại ngữ

Trung tâm Tin học

 

 

 
Lịch sử Trường ĐHKT Hà Nội  
Công trình cho Đất nước  
  
     Phát triển bền vững, Hội nhập Khu vực và Quốc tế đầu thế kỷ 21 
    Học tập tại ĐHKT HN Thông tin Sinh viên Thông tin Cán bộ   English  
 
Giới thiệu chung
Ban Giám hiệu
Chức năng nhiệm vụ - Mục tiêu phát triển
Lịch sử phát triển Trường ĐHKT Hà Nội
Các cơ sở đào tạo
HĐ Khoa học-Đào tạo
HĐ Thi đua- khen thường
Xuất bản phẩm
Tin tức và Sự kiện

 

Lịch sử Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội


Kỷ niệm 45 năm truyền thống đào tạo Kiến trúc sư ở Việt Nam


I. Hoàn cảnh hình thành sự nghiệp đào tạo kiến trúc sư trong chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.1. Đào tạo Kiến trúc sư ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8.1945

Trước Cách mạng tháng 8.1945, chính quyền thực dân Pháp đã tổ chức đào tạo Kiến trúc sư với qui mô nhỏ trong Trường Mĩ thuật Đông Dương.

Mục tiêu ban đầu của Trường, như Nghị định thành lập ngày 27.10.1924, của Toàn quyền Đông Dương M. Merlin là: ... đào tạo giáo viên nghệ thuật và hội hoạ cho các trường thành chung và dạy nghề trang trí.

Năm 1925 Trường bắt đầu tuyển sinh, trong đó có ngành Nghệ thuật kiến trúc Viễn đông. Hình thức đào tạo theo xưởng, mỗi khoá chỉ tuyển từ 2 đến 5 sinh viên. Sau gần 20 năm, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đào tạo được trên 20 Kiến trúc sư

Đầu năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới thứ II lan đến Việt Nam, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương di chuyển về Sơn Tây và Đà Lạt rồi ngừng hoạt động. Ngày 19.12.1946, cuộc Trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta bùng nổ. Thày trò xếp bút nghiên lên đường kháng chiến.

Qua tìm hiểu, sinh viên kiến trúc các khoá như sau:

1925 - 1930: Nguyễn Xuân Phương, Lê Quang Tỉnh

1926 - 1931: Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Tường Tam

1927 - 1932: Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp

1928 - 1933: Trần Hữu Tiềm, Nguyễn Gia Đức

1929 - 1934: Bạch Văn Trụ, Phan Văn Hoá, Đoàn Ngọ

1930 - 1935: Võ Đức Diên, Đoàn Văn Minh

1931 - 1936: Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Ngọc Diệp

1932 - 1937: Hoàng Linh, Phạm Hoàng (Phạm Khắc Hệ)

1934 - 1939: Nguyễn Ngọc Chân, Nguyễn Nghi, Tạ Mĩ Duật, Nguyễn Ngọc Ngoạn

1938 - 1943: Ngô Huy Quỳnh, Khổng Toán, Phạm Khắc Nhu, Lương Tấn Khoa

1940 - 1945: Huỳnh Soàn, Nguyễn Văn Đường, Đỗ Bá Vinh

1942 - 1947: Đàm Trung Phường, Dương Hi Chấn, Đàm Trung Lãng, Huỳnh Kim Mãng

1943-1948: Vương Quốc Mĩ, Nguyễn Văn Thâng, Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Quang Nhạc

1944-1949: Nguyễn Văn Long, Nguyễn Sanh Kha,  Võ Như Tỉ, Võ Thành Nghĩa, Ngô Viết Thụ.

Một số sinh viên đang học dở dang đã qua Pháp tiếp tục học tập và bảo vệ tốt nghiệp tại Paris như các ông Huỳnh Kim Mãng, Nguyễn Văn Thâng, Nguyễn Quang Nhạc, Ngô Viết Thụ, Võ Thành Nghĩa...

1.2. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, không có điều kiện đào tạo kiến trúc sư.

Sau cách mạng tháng Tám, chính quyền cách mạng đã có chương trình đào tạo đại học - cao đẳng chuyên nghiệp. Trường Cao đẳng Giao thông - Công chính ra đời, trong đó có ngành kiến trúc. Do hoàn cảnh kháng chiến, Trường Cao đẳng Giao thông - Công chính chỉ đào tạo hệ Trung cấp kĩ thuật.

Từ 1946 đến năm 1954, Trường Cao đẳng Giao thông - Công chính tuyển được 6 khoá trung cấp kĩ thuật. Năm 1955, Trường này chia thành 2 trường: Trung cấp Giao thôngTrung cấp Thuỷ lợi - Kiến trúc. Các trường này tuyển sinh khoá VII vào năm học 1955 – 1956. Năm 1958, trường Trung cấp Thuỷ lợi - Kiến trúc lại chia thành 2 trường: Trung cấp Thuỷ lợi Nam Hà và Trung cấp kiến trúc Hà Đông (nay là trường Cao đẳng xây dựng số l).

Trong hoàn cảnh kháng chiến, không có điều kiện để tổ chức đào tạo ngành học kiến trúc, Đảng và Nhà nước đã nhắc nhở ngành Giáo dục và ngành Kiến trúc chuẩn bị cho công tác này khi kháng chiến thắng lợi.

Bác Hồ - hiện thân của Đảng và nhà nước, đã nhìn xa thấy rộng. Trong những năm kháng chiến, Bác đã nghĩ đến công cuộc kiến thiết đất nước sau này. Cố KTS. Nguyễn Cao Luyện có lần kể lại trước cán bộ và sinh viên rằng: Khi ở Việt Bắc, tuy bộn bề công việc cùng Trung ương Đảng và Chính phủ chỉ đạo công cuộc Trường kì kháng chiến, Ông Cụ vẫn bố trí thời gian gặp gỡ hầu hết giới trí thức.

Riêng buổi gặp các Kiến trúc sư, một ấn tượng bất ngờ không thể quên. Bác hỏi cả nước hiện nay có được bao nhiêu Kiến trúc sư, những ai đi theo kháng chiến,có mang theo gia đình không, có yêu cầu giúp đỡ gì không. Sau lời hỏi thăm ân cần đó, Bác nói tiếp: “Kháng chiến trường kì gian khổ đấy nhưng nhất định thắng lợi. Số lượng Kiến trúc sư như vậy là quá ít, sau này các chú sẽ gặp khó khăn đấy. Ngay từ bâygiờ các chú hãy hình dung trước những công việc phải làm. Kiến trúc phải làm gì và làm như thế nào để nhanh chóng khôi phục lại đất nước. Phải có những bước đi như thế nào để đuổi kịp các nước tiên tiến, nhưng vẫn mang được cốt cách của một đất nước vốn đã có hàng ngàn năm văn hiến. Người ta sống cần có nhà để ở, có trường để học hành, có chợ có cửa hàng để giao lưu buôn bán, có bệnh viện để chăm lo sức khoẻ,... Kiến trúc cần cho cuộc sống. Mỗi dân tộc thậm chí mỗi vùng đều có một nền kiến trúc riêng. Kiến trúc của ta, theo Bác, nó không đồ sộ, nhưng rất tinh tế, rất gắn bó với tâm tư tình cảm của con người Việt Nam... Lực lượng chuyên môn còn mỏng lắm, phải nghĩ đến việc mở trường đào tạo. Các chú suy nghĩ đi, rồi kiến nghị với Bác”. Lời của Bác thực sự lay chuyển tâm can mọi người, củng cố niềm tin vào cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, mở ra một chân trời rộng lớn về tương lai và về nhiệm vụ của ngành, của mỗi người, trong đó có vấn đề xây dựng một nền kiến trúc Việt Nam và đào tạo Kiến trúc sư Việt Nam.

 

Lớp học Kiến trúc đầu tiên tại núi rừng Việt Bắc

Thế là tại núi rừng Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đã có một lớp kiến trúc đặc biệt và duy nhất. Thày giáo là các Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Trần Hữu Tiềm, Tạ Mĩ Duật. Sinh viên là các ông Dương Hi Chấn, Đàm Trung Phường, Đàm Trung Lãng, Vương Quốc Mĩ - những sinh viên kiến trúc trường Cao đẳng mĩ thuật đang học dở dang. Các ông được hoàn thành chương trình khoá học và bảo vệ đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư tại Việt Bắc.

1.3. Sau ngày Hoà bình lập lại trên miền Bắc (1954), chưa đủ điều kiện đào tạo Kiến trúc sư.

Năm 1954, nửa đất nước có hoà bình. Đảng và Chính phủ đã có kế hoạch đào tạo cán bộ cho việc khôi phục và phát triển kinh tế - văn hoá. Năm 1955 -1956, bốn Trường Đại học khai giảng: Đại học Bách khoa, Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm và Đại học Kinh tế quốc dân.

Trong khoá l của khoa Xây dựng Trường Đại học Bách khoa (1956) có Tổ 29 gồm 26 sinh viên theo học ngành Kiến trúc. Nhưng do chưa đủ các điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật và đội ngũ Cán bộ giảng dạy về kiến trúc, nên sau một học kì, số sinh viên ngành học này trở lại học ngành xây dựng. Một số kĩ sư khoá này ra trường về công tác trong ngành kiến trúc, sẵn có năng khiếu và lòng say mê nghề nghiệp, đã trở thành những cán bộ đầu đàn như GS.TS. Nguyễn Mạnh Kiểm, PGS.TS. Trương Tùng, GS.TSKH. Nguyễn Trâm, GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng, PGS. Trần Hùng, PGS.TS. Nguyễn Đức Thiềm, PGS.TS. Tôn Đại, PGS. Lê Kiều, PGS. Hoạ sĩ Đặng Quí Khoa, KTS. Lê Văn Lân, TS. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, KS. Đinh Đức Vinh...

Như vậy là thời gian đầu sau khi hoà bình được lập lại ở Miền Bắc cho đến năm 1960, chúng ta chưa hội đủ điều kiện để mở ngành đào tạo kiến trúc sư.

VÒ ®Çu trang

 

II. Lớp đào tạo Kiến trúc sư (1961 -1967) - Tiền thân của  Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội

II.1. Bối cảnh kinh tế xã hội

Sau kế hoạch 3 năm khôi phục (1955-1957), nước ta bước vào giai đoạn phát triển kinh tế văn hoá với kế hoạch 3 năm 1958 - 1960. Bước đầu chúng ta phải nhờ nước bạn giúp thiết kế một số nhà máy, khu nhà ở mới như Nhà máy cơ khí Hà Nội, nhà máy điện Vinh, nhà máy tuyển quặng crômít Thanh Hoá, nhà máy tuyển quặng Apatít Lao Cai, Khu gang thép Thái Nguyên, Khu nhà ở Kim Liên... Tiếp theo, chúng ta phải tự đảm đương công việc thiết kế xây dựng những công trình của mình.

Năm 1958, Bộ Kiến trúc được thành lập. Nhu cầu về kiến trúc sư rất lớn và rất cấp thiết. Số kiến trúc sư được đào tạo trước Cách mạng không nhiều, và phần lớn lại đảm đương trọng trách quản lí nhà nước.

Thống kê sơ bộ như sau:

Ngành Công trình có 11 Kiến trúc sư: Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Cao Luyện, Trần Hữu Tiềm, Nguyễn Ngọc Chân, Đoàn Văn Minh, Đoàn Ngọ, Nguyễn Nghi, Dương Hi Chấn, Vương Quốc Mĩ, Đàm Trung Lãng và KTS. Nguyễn Hữu Thứt ở Hungari mới về

Ngành Qui hoạch đô thị và Nông thôn có 4 Kiến trúc sư: Hoàng Như Tiếp, Ngô Huy Quỳnh, Khổng Toán, Đàm Trung Phường.

Thủ đô Hà Nội có 2 Kiến trúc sư: Tạ Mĩ Duật, Nguyễn Ngọc Ngoạn.

Quốc phòng có 2 Kiến trúc sư: Hoàng Linh, Phạm Hoàng.

Trong số 19 Kiến trúc sư kể trên đã có 12 vị làm công tác quản lí cấp công ty, Cục, Vụ, Viện và Bộ; 3 vị đang thực tập và nghiên cứu sinh ở nước ngoài.

Số sinh viên gửi đi đào tạo ở nước ngoài mỗi năm có 2 - 5 người. Sớm nhất, năm 1961 sẽ có 2 Kiến trúc sư tốt nghiệp ở Bắc Kinh là Nguyễn Kim LuyệnVũ Tam Lang. Tới năm 1963 sẽ có thêm 4 Kiến trúc sư tốt nghiệp ở Mascva là Nguyễn Trực Luyện, Huỳnh Lẫm, Trịnh Nhưng, Võ Thuộc.

Bộ kiến trúc do Bộ Trưởng Bùi Quang Tạo chủ trì đã có chủ trương và quyết tâm tổ chức việc đào tạo Kiến trúc sư ở trong nước. Trước mắt, khi chưa đủ điều kiện mở Trường Đại học thì cần mở lớp đại học.

Thứ trưởng KTS. Nguyễn Cao Luyện được phân công đặc trách công tác này. Năm 1960, Ông được cử đi khảo sát việc đào tạo kiến trúc sư tại Trung Quốc.

II.2. Tháng 6.1961, Lớp Đào tạo Kiến trúc sư ra đời.

Ngày 21.4.1961, Bộ kiến trúc có văn bản số 1205.BKT.TCCB trình Chính phủ xin mở Lớp Đào tạo Kiến trúc sư. Số lượng xin tuyển năm 1961 là 100 sinh viên. Kiến trúc sư Nguyễn Nghi, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Trung cấp kiến trúc Hà Đông, Phó Chủ nhiệm công ty kiến trúc Việt Trì được điều động về Bộ nghiên cứu soạn thảo mục tiêu - kế hoạch - chương trình đào tạo và đề xuất lực lượng cán bộ giảng dạy.

Ngày 8.6.1961, Chính phủ có văn bản số 1927.CN, cho phép Bộ Kiến trúc mở Lớp đào tạo Kiến trúc sư. Nội dung chính của văn bản là:

1) Cho phép Bộ Kiến trúc mở lớp đào tạo kiến trúc sư với số lượng tuyển sinh năm 1961 là 100 người.

2) Về đối tượng tuyển sinh của lớp kiến trúc sư chủ yếu là lấy số cán bộ đang làm công tác kiến trúc và số học sinh trung cấp kiến trúc. Nếu 2 nguồn cung cấp này không thể đảm bảo số tuyển sinh nói trên, thì Bộ Giáo dục cần chọn trong số học sinh phổ thông thi vào đại học của niên khoá 1961 - 1962 cung cấp cho đủ số lượng 100 nói trên.

3) Bộ Giáo dục và Trường Đại học Bách khoa có trách nhiệm giúp đỡ Bộ Kiến trúc về mặt trường sở, chỗ ăn ở cho sinh viên, vấn đề thực tập thí nghiệm, giảng dạy về chính trị, khoa học cơ bản vẽ kĩ thuật ...

4) Uỷ ban Kế hoạch nhà nước căn cứ vào yêu cầu giảng dạy của lớp kiến trúc sư này mà ghi vào kế hoạch xin chuyên gia giáo sư cung cấp cho Bộ kiến trúc.

Trong tháng 6.1961, Bộ kiến trúc đã có thông báo tuyển sinh đến các cơ quan thiết kế của các Bộ, các ngành, các địa phương. Đầu tháng 8.1961, kì thi tuyển sinh được tổ chức. Đối tượng tuyển sinh là cán bộ đang công tác trong các cơ quan thiết kế xây dựng ở Trung ương và các địa phương đã tốt nghiệp phổ thông cấp 3. Thí sinh thi 4 môn: Toán, Vật lý, Làm văn, Vẽ Mĩ thuật. Có 24 thí sinh trúng tuyển.

Cùng thời gian, Bộ đã tuyển chọn 60 học sinh khoá 12 Trường Trung cấp Kiến trúc Hà Đông. Số anh chị em này đã hoàn thành chương trình văn hoá tương đương phổ thông cấp 3, có kết quả xuất sắc.

Sau ngày nhập học, Trường Đại học Bách khoa tổ chức thi tuyển môn Vẽ Mĩ thuật cho số sinh viên trúng tuyển vào khoá 6 ngành xây dựng, chọn thêm 20 sinh viên.

Cán bộ trong ngành trúng tuyển kì thi tháng 8.1961:

Tạ Thanh Cao. Trương Vi Dân . Nguyễn Văn Dự. Vũ Đức Đảm. Trần Văn Điểm. Trần Ngọc Điều. Bùi Minh Đức. Nguyễn Ngọc Giả. Lê Quang Hải. Nguyễn Trọng Hùng. Vũ Khang. Nguyễn Đăng Kiểm. Nguyễn Lang. Trần Ngọc Lân. Trần Anh Minh. Phạm Văn Mộc. Trần Quang. Ngô Gia Phúc. Vũ Minh Sơn. Tống Duy Tế. Võ Hoa Thiếm. Nguyễn Thú. Nguyễn Ngọc Thư. Nguyễn Ngọc Uyển.

Học sinh Trung cấp Kiến trúc K.12 được tuyển:

Vũ Đình Ấm. Nguyễn Đình Châu. Đinh Văn Chéo. Phạm Hữu Chung. Nguyễn Chương. Vũ Công Cơ. Vũ Duy Cừ. Nguyễn Công Cử. Nguyễn Minh Dục. Lương Anh Dũng. Trần Đăng Duyến. Trần Đàm. Nguyễn Xuân Đào. Nguyễn Thị Đông. Nguyễn Minh Đức. Đoàn Ngọc Đương. Huỳnh Hiền. Đoàn Quang Hiển. Đỗ Đình Hoa. Nguyễn Thế Khải. Bành Văn Khang. Nông Văn Khoan. Hoàng Văn Khương. Trịnh Thị Liên. Hoàng Lương. Nông Văn Mạnh. Nguyễn Ngọc Nhã. Vũ Nhã. Nguyễn Thúc Nhương. Nguyễn Khắc Nhượng. Trương Ngô. Hoàng Minh Phái. Phạm Thanh Phúc. Cao Kim Qui. Trần Đông Rạng. Mai Văn Riễn. Hoàng Văn Sâm. Nguyễn Văn Sanh. Nông Văn Tạch. Nguyễn Hữu Tài. Đặng Như Tất. Nguyễn Thái. Nguyễn Văn Thanh. Nguyễn Ngọc Thanh. Hoàng Văn Thịnh. Phan Văn Thiệp. Lê Hoàng Thọ. Hoàng Đình Thoan. Nguyễn Xuân Thử. Nguyễn Thị Trâm. Nguyễn Trảo. Phan Bá Triều. Nguyễn Triệu. Nguyễn Kìm Trung. Diêu Công Tuấn. Trần Tuấn. Tạ Xuân Vạn. Vũ Khắc Vấn. Nguyễn Khắc Xương. Nguyễn Hoàng.

Sinh viên K.VI ĐHBK trúng tuyển qua thi năng khiếu:

Nguyễn Văn Anh. Nguyễn Xuân Ân. Lê Biên. Trần Bảo Châu. Nguyễn Trí Dũng. Nguyễn Bá Đang. Nguyễn Ngọc Đính. Hứa Ngọc Hiếu. Nguyễn Vũ Hưng. Tạ Thị Lan Hương. Nguyễn Văn Lộc. Đỗ Thế Sính. Dương Xuân Tấn. Đỗ Đình Thi. Nguyễn Đình Tiến. Trần Anh Tú. Lâm Quang Vinh. La Thị Bích Vân. Tạ Trường Xuân.

Lưu học sinh chuyển tiếp vào năm thứ 3,4:

Nguyễn Đắc Nghinh, từ ĐH Đồng tế Thượng Hải về

Phạm Gia Du, từ ĐH xây dựng Kiev về

Nguyễn Ngọc Quỳnh, từ ĐH kiến trúc Mascva về.

Trong số sinh viên trên, có 4 người do bệnh tật không học hết chương trình:Tạ Thanh Cao, Nguyễn Khắc Xương, Tống Duy TếTrần Tuấn.

lI.3. Tháng 9.1961, khai giảng khoá l.

Khoá đầu được khai giảng ngày 3.9.1961 cùng với khoá VI Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, tại Hội trường 500.

Mục tiêu, chương trình và kế hoạch đào tạo ban đầu được xây dựng trên cơ sở khung đào tạo là 3,5 năm (như khoá l Trường ĐH Bách khoa),

Chương trình này được xây dựng trên nguyên tắc:

- Những môn cơ bản và cơ sở của ngành học nhằm bảo đảm cho cán bộ có trình độ cơ bản về phương pháp và năng lực sáng tác thì nhất thiết phải có trong chương trình: Vẽ mĩ thuật, Hình hoạ, Bóng phối cảnh, Cơ sở kiến trúc, hệ thống 14 đồ án kiến trúc từ thấp đến cao, Cấu tạo nhà cửa, Thiết bị vệ sinh,...

- Những môn cơ bản, kĩ thuật cơ sở phụ trợ như Toán cao cấp, Cơ lí thuyết Sức bền vật liệu, Cơ kết cấu, Kết cấu công trình, Vật liệu xây dựng,... được phân bổ với số tiết tối thiểu hợp lí, môn trước là cơ sở của môn sau.

- Những môn nào có thể lùi lại bổ sung sau sẽ không đưa vào chương trình hoặc có thể kết hợp giảng trong giờ đồ án, như môn Nguyên lí thiết kế hoặc bố trí số tiết tối thiểu hợp lí, như môn Ngoại ngữ, Lịch sử Kiến trúc.

Sau đó từ chủ trương mới của Bộ Giáo dục, và ý kiến của Chuyên gia đào tạo của Liên Xô (cũ) tại Bộ Kiến trúc - Giáo sư TS.AM.Prikhôtkô, Bộ Kiến trúc đã ấn định chương trình chính thức là 4,5 năm. Chương trình có đủ các môn lí luận và các môn kĩ thuật cơ sở hoàn chỉnh.

Lớp sinh viên kiến trúc khoá l được phiên chế thành ngành Kiến trúc khoá VI thuộc khoa Xây dựng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Bộ kiến trúc đã bổ nhiệm Ban Lãnh đạo Lớp Đào tạo Kiến trúc sư do Thứ trưởng KTS. Nguyễn Cao Luyện - Trưởng Ban, KTS. Nguyễn NghiPhó Ban phụ trách công tác giáo vụ. Năm 1963, Đại uý (chuyển ngành) Lê Hoàng Long được cừ làm Phó Ban về chính trị. Nhân viên giúp việc ban đầu có các ông Lê Chức, Nguyễn Ngọc Toản, Hà Văn Ân...

Cố Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện để lại trong chúng ta những ấn tượng không phai mờ. Cụ là một Kiến trúc sư tài năng, có hoài bão và tâm huyết với việc nghiên cứu khai thác phát triển kiến trúc truyền thống Việt Nam. Trước CM tháng 8, Cụ cùng một số đồng nghiệp sáng lập và hoạt động trong Nhóm ánh sáng. Ngôi nhà số 7 phố Thuyền Quan là một trong số công trình do Cụ thiết kế hiện vẫn còn nguyên vẹn. Khi được giao phụ trách Lớp Đào tạo Kiến trúc sư, mặc dầu bận việc chỉ đạo công tác khoa học kĩ thuật và thiết kế trên Bộ, Cụ không lơi lỏng công việc tổ chức đào tạo trường. Cụ không trực tiếp giảng dạy, nhưng thông qua các buổi gặp gỡ, bằng những mẩu chuyện vui nhẹ nhàng, dí dỏm, Cụ truyền cho cán bộ, sinh viên những hiểu biết về kiến trúc truyền thống và đem lại cho họ lòng say mê nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm của mình. Cụ có tâm hồn một nhà thơ. Khi viết hay nói chuyện, Cụ thường dùng ngôn ngữ giàu cảm súc và thơ minh hoạ. Nói về s hài hoà với thiên nhiên của ngôi nhà dân gian Việt Nam, Cụ đọc câu thơ Nguyễn Trãi:

Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,

Quét hiên ngày sợ bóng hoa tan!

Khi chia tay cán bộ và sinh viên chuyển về Trường Xây dựng, Cụ nói lời động viên rồi mượn câu thơ của Nhà thơ Huyền Kiêu để tạm biệt:

Sáng tiễn đưa nhau, chẳng nhớ nhau!

Nửa đêm sực tỉnh bỗng dưng sầu!

...

Số Kiến trúc sư tốt nghiệp Khoá l ngành kiến trúc dân dụng được giữ lại Trường (Lê Quang Hải, Vũ Đc Đảm, Nguyễn Bá Đang) đã được Cụ trực tiếp rèn cặp trong thời gian tập sự giảng dạy. Sự trưởng thành của anh em mang dấu ấn về trí thc, về phương pháp nghiên cứu và phong cách làm việc của Cụ. Sau này, khi đến tuổi nghỉ hưu, thông qua Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam, Cụ vẫn theo dõi bước đi của Trường, thường xuyên góp ý xây dựng.

Những nhà giáo đầu tiên thuộc biên chế Lớp Đào tạo Kiến trúc sư là: KTS. Vũ Tam Lang, HS. Đặng Quí Khoa, KS. Dương Tiến Thọ, KS. Lê Văn Nội,  KS. Nguyễn Văn Tợ, KS. Nguyễn Khánh Hội. Năm 1962, 1963 có thêm KS. Dương Văn CánhKTS. Huỳnh Lẫm.

Năm 1966, KS Lê Văn Nội được đi thực tập nước ngoài. Sau Ông được chuyển về Vụ Tổ chức rồi chuyển tiếp về Thanh Hoá.

Năm 1966, KS. Nguyễn Văn Tợ chuyển về Viện thiết kế Thư ơng mại. Sau khi thống nhất đất nước, Ông chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1985, PGS.HS. Đặng Quí Khoa chuyển về Trường ĐH Mĩ thuật.

TS. Dương Văn Cánh, nguyên Chủ nhiệm Khoa Xây dựng, lâm bệnh hiểm nghèo, mất năm 1983.

Cán bộ Bộ kiến trúc tham gia giảng dạy có KTS. Nguyễn Văn Ninh, KTS. Hoàng Như Tiếp, KTS. Trần Hữu Tiềm, KTS. Tạ Mĩ Duật, KTS. Đoàn Văn Minh, KTS. Đoàn Ngọ, KTS. Nguyễn Ngọc Chân, KTS. Khổng Toán, TS. Vương Quốc Mĩ, KTS. Nguyễn Hữu Thứt, KS. Vũ Đức Thận, KS. Nguyễn Văn Tài, KS. Trịnh Hoài Linh, KS. Phạm Đình Biều...

CBGD Trường Mĩ thuật tham gia giảng dạy có các Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đức Nùng, Lương Xuân Nhị, Vương Trình, Ngô Tôn Đệ, Trịnh Thiệp, Nhà Điêu khắc Lê Công Thành...

Cán bộ giảng dạy các Bộ môn của Trường ĐHBK tham gia giảng dạy các môn cơ bản và kĩ thuật cơ sở: Thái Thanh Sơn, Tô Xuân Dũng, Hoàng Văn Thân, Nguyễn Bân, Lều Thọ Trình, Trương Hùng Thiên, Nguyễn Văn Yên,Nguyễn Kim Luyện, Nguyễn Thái...

Mặc dù khoá đầu tiên tuyển chọn từ nhiều nguồn, trình độ không đồng đều, nhưng được học tập trong môi trường Đại học Bách khoa, lại được các giáo sư các nhà Hoạ sĩ, các Kiến trúc sư có trình độ và phương pháp tốt, nên sinh viên tiếp thu nhanh, kết quả học tập vững chắc. Từ một lớp bình thường (học kì l), đã trở thành lớp xuất sắc (học kì II), rồi trở thành lớp tiên tiến của Trường Đại học Bách khoa (Học kì III - IV). Vào đầu năm thứ hai, lớp 61K đã có một phòng triển lãm (nội bộ) tranh vẽ trong hè, chất lượng khá tốt. Mỗi học kì có 1 - 2 sinh viên đạt danh hiệu sinh viên ưu tú (có 75% môn thi và các đồ án kiến trúc đạt điểm 5/5, còn lại đạt điểm 4/5; các môn kiểm tra đạt yêu cầu), 8 - 10 sinh viên đạt danh hiệu sinh viên tiên tiến (các môn thi và đồ án kiến trúc đạt 4/5, các môn kiểm tra đạt yêu cầu). Năm thứ II, một số sinh viên khá đã được tham gia cuộc thi quốc tế sáng tác tượng đài chiến thắng Hi Rôn do Hội Kiến trúc sư quốc tế tổ chức.

Năm 1962 tuyển 100 sinh viên khoá II. Năm 1963 tuyển 30 sinh viên khoá III.

Thời gian này Lớp Đào tạo kiến trúc sư có một chi bộ cán bộ với 3 đảng viên, sinh hoạt tại Đảng bộ Bộ Kiến trúc. Hai chi bộ sinh viên (khóa l,II) với 40 đảng viên, sinh hoạt tại Liên chi Khoa Xây dựng Đảng bộ trường Đại học Bách khoa. Hai chi đoàn TNLĐVN thuộc Đoàn TNLĐ Việt Nam Đại học Bách khoa.

lI.4. Lớp Đào tạo Kiến trúc sư chuyển về Phúc Xá, Ba Đình Hà Nội.

Số lượng sinh viên Kiến trúc ngày một tăng, trong khi trang thiết bị học tập cho sinh viên có tính đặc thù, nên chi phí học cụ, học phẩm cho sinh viên kiến trúc tốn kém hơn các ngành khác. Để bảo đảm chất lượng đào tạo, bên cạnh những yếu tố về nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo, về đội ngũ cán bộ giảng dạy, Bộ Kiến trúc chủ trưng giải quyết tối ưu về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cung cấp toàn bộ nhu cầu học cụ, hoạ phẩm cho sinh viên. Lớp Đào tạo Kiến trúc sư cần có một cơ sở đủ giảng đường, xưởng vẽ mĩ thuật, xưởng thiết kế, nhà ở nhà ăn tập thể, sân bãi cho hoạt động ngoại khoá. Trong khi chờ xây dựng một khu trường hoàn chỉnh (đã có qui hoạch đặt bên cạnh Viện Kĩ thuật Xây dựng tại Nghĩa Đô), Bộ sắp xếp di chuyển Trường Văn hoá nghiệp vụ của Bộ sang Gia Lâm, dành cơ sở Phúc Xá, lên khuôn viên 4ha, giao cho Lớp Đào tạo Kiến trúc sư sử dụng.

Tháng 10.1963, sau khi thoả thuận với Bộ Giáo dục, Bộ kiến trúc có văn bản số 1552/BKT ngày 16.10.1963, chuyển Lớp Đào tạo Kiến trúc sư từ Trường Đại học Bách khoa về cơ sở thuộc Bãi Phúc Xá khu Ba Đình, Hà Nội.

Từ đây, Lớp Đào tạo Kiến trúc sư được mang tên là Lớp Đạí Học Kíến trúc, là đơn vị cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ kiến trúc, hoạt động độc lập, do Ban Lãnh đạo lớp điều hành.

KTS. Nguyễn Nghi là cấp Phó Thủ trưởng, song thực tế Ông là người Lãnh đạo thường trực, người đứng mũi chịu sào hàng ngày của đơn vị. Ông có nhiều công sức tạo dựng và chèo lái Lớp Đại học Kiến trúc vững bước đi lên trong những năm 1961 - 1967.

Ngay khi còn đương nhiệm Phó Chủ nhiệm công ty Kiến trúc Việt Trì, òng đã được Bộ điều động tháp tùng KTS. Nguyễn Cao Luyện đi khảo sát đào tạo Kiến trúc sư tại Trung Quốc. Khi về Bộ, Ông được giao nghiên cứu chương trình, kế hoạch đào tao Kiến trúc sư theo khung 3,5 năm. Ông được làm việc với GS.AM. Prikhốtcô, nghiên cứu xây dựng lại kế hoạch đào tạo với khung thời gian 4,5 năm. Tiếp đó Ông lại nghiên cứu xây dựng kế hoạch chất lượng cao với khung 5,5 năm, áp dụng từ khoá IV trở về sau. Các bản kế hoạch này còn lưu lại, rất toàn diện, hợp lí. Khi lên lớp hướng dẫn đồ án cho sinh viên, hoặc khi thảo luận chấm đồ án trong nhóm giảng viên, Ông thường bảo vệ việc vận dụng phương châm thiết kế hiện hành, những nguyên tắc về điều kiện tiểu khí hậu và khuyến khích xu hướng dân tộc. Ông chuyên tâm công tác chuyên môn, và đặc biệt say sưa với kiến trúc dân gian. Căn nhà !ám việcnhà ăn cán bộ tại Thuỵ Vân bằng tre trúc, mái lá cọ, với hàng cửa sổ chấn song trúc, cánh cửa bằng tre đan,.. đẹp giản dị, thoáng mát, do chính Ông chỉ đạo Tổ quản trị thực hiện.

Giờ đây, những cán bộ, sinh viên lớp Đại học Kiến trúc thời đó hẳn không quên người Thủ trưởng giản dị nhưng rất nghiêm túc trong bộ âu phục màu xanh chàm. Khi đi giải quyết công việc, dáng đi vội vã, nét mặt suy tư, như không để phí một chút thời gian nào. Khi gặp làm việc với cán bộ sinh viên, bao giờ Ông cũng đưa tay ra chào đón hoặc đưa tiễn, và bắt tay trịnh trọng người khách của mình. Khi ở Phúc Xá cũng như khi sơ tán lên Phú Thọ, anh em thấy Ông làm việc cả ngày, có khi cả buổi tối, để xử lí hết công việc: nào lên lớp cho sinh viên, nào nghiên cứu chương trình kế hoạch, rồi làm việc với cán bộ nhân viên trong đơn vị, tiếp cán bộ các lớp, Ông thường lên Bộ làm việc hoặc đi họp xa với chiếc xe đạp cũ kĩ. Thấy mấy Thày giáo trẻ đọc Thơ Đường, Ông tâm sự là cũng từng thích thơ Đường, nay nhiều việc quá không còn thì giờ đọc. Ông kể lại cho các bạn trẻ về sự tích bài thơ: "Tích niên kim nhật thử môn trung/ nhân diện đào hoa tương ánh hồng/ nhân diện bất tri hà xứ khứ/ đào hoa y cựu tiếu Đông phong''.

Ông là một trí thức trẻ tham gia kháng chiến, là đảng viên lớp 6.1 (1958 - 1959), là đương kim Đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khoá III (1960 - 1976). Ông nói chuyện rủ rỉ, chậm rãi. Trong sử lí công việc, òng tranh thủ ý kiến tập thể lãnh đạo, ít tự quyết đoán, đôi lúc dè dặt với mọi người. Ông ít kiên trì mạnh dạn bầy tỏ nhưng vấn đề liên quan đến bản thân, dễ bị hiểu lầm. Trong công tác quản lí, Ông thực hiện nghiêm túc nội qui qui chế, không nể nang xuê xoa trong những trường hợp sinh viên phải lưu ban, thôi học.

Cơ sở tại phúc Xá có thể đảm bảo cho qui mô đào tạo 250 sinh viên hệ chính qui, 100 sinh viên hệ chuyên tu, 100 sinh viên hệ tại chức (tính theo số sinh viên có mặt tại trường). Bộ máy giúp việc cho Ban Lãnh đạo có Tổ Giáo vụ và Tổ hành chính tổ chức.

Tổ Giáo vụ có KS. Nguyễn Đức Bân (Tổ trưởng), CN Nguyễn Ngọc Thìn, Phan Thị Kiều Loan, Nguyễn Văn Toả,  Nguyễn Thị Đức Kiến.

Tổ Hành chính tổ chức có: Nguyễn Minh Lí (Tổ trưởng), Nguyễn Văn Oanh, Hà Văn Ân, Nguyễn Thị Kim Cát, Nguyễn Thị Tính, Nguyễn Khắc Tịnh, Hà Văn Can, Y tá Trần Văn Thiệu.

Trường có nhà ăn tập thể do Ông Nguyễn Văn Tiệp làm quản lí. Một đội ngũ chị em cấp dưỡng do Trường Văn hoá nghiệp vụ để lại gồm các chị Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Minh Vũ Thị Nam, Nguyễn Thị Hồi, Nguyễn Thị Sáu, Nguyễn Thị Thành, Nguyễn Thị Y...

Cán bộ giảng dạy từ 18 thày năm 1964, tăng lên 36 thày năm 1967. Bên cạnh đó có đội ngũ dạy kiêm chức trên 15 người. Bước đầu có hai Bộ môn: Bộ môn Văn hóa kĩ thuậtBộ môn Kiến trúc.

Bộ môn Văn hóa kĩ thuật có:

KS. Lê Văn Nội, Tổ trưởng (1963-1966), dạy Sức bền vật liệu.

KS. Nguyễn Đức Bân, Tổ trường (1966 -1967), dạy Sức bền vật liệu.

CN. Hoàng Doanh, dạy Toán

KS. Dương Tiến Thọ, dạy Hình hoạ

KS. Nguyễn Văn Tợ, dạy Vật liệu xây dựng.

CN. Nguyễn Ngọc Thìn, dạy Cơ Lí thuyết

KS. Dương Văn Cánh, dạy Cơ học kết cấu.

KS. Nguyễn Khánh Hội, dạy Kết cấu công trình.

KS. Nguyễn Anh Châu, dạy Kĩ thuật thi công.

KS. Nguyễn Ngọc Thanh, dạy Tổ chức & kế hoạch xây dựng

CN. Nguyễn Huy Thanh, dạy Ngoại ngữ.

Đồng chí Lê Vân dạy Triết - Mĩ học Mác - Lê nin.

Đồng chí Lê Thức dạy Kinh tế chính trị và Lịch sử Đảng.

Bộ môn Kiến trúc gồm có:

KTS. Đàm Trung Phường, Tổ trường (1963-66) dạy nguyên lí và đồ án qui hoạch đô thị.

KTS. Khổng Toán, Tổ trưởng (1966 - 1967) dạy nguyên lí và đồ án qui hoạch đô thị.

KTS. Đoàn Văn Minh dạy nguyên lí và đồ án kiến trúc.

KTS. Đoàn Ngọ dạy cấu tạo và đồ án kiến trúc.

KTS. Nguyễn Nghi dạy đồ án kiến trúc.

KTS. Vũ Tam Lang dạy cơ sở kiến trúc và đồ án kiến trúc.

KTS. Huỳnh Lẫm dạy nguyên lí và đồ án kiến trúc.

KTS. Nguyễn Thế Bá dạy nguyên lí và đồ án qui hoạch đô thị

Hoạ sĩ Đặng Quí Khoa dạy môn Vẽ Mĩ thuật.

Cán bộ giảng dạy kiêm chức:

KTS. Hoàng Như Tiếp, KTS. Trần Hữu Tiềm, KTS. Hoàng Linh, TS.KTS. Vương Quốc Mĩ, KTS. Dương Hi Chấn, KTS. Võ Thuộc, KTS. Nguyễn Trực Luyện, KTS. Trịnh Nhưng, KTS. NguyễnKim, KTS. Trần Trọng Trí, KS. Vũ Đức Thận, KS. Nguyễn Tại, KS. Trần Văn Mô, KS.Nguyễn Học Văn, KS. Phạm Đình Biều, KS. Nguyễn Kí, ...

Về Đoàn thể, Lớp Đại học kiến trúc có một Liên chi bộ thuộc Đảng bộ Bộ Kiến trúc. Đoàn Thanh niên LĐVN trực thuộc Đoàn TNLĐVN Bộ Kiến trúc. Công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Bộ Kiến trúc. Ban đầu (1963), Liên chi Đảng có 51 đảng viên, gồm 1 chi bộ cán bộ (8 đảng viên) và 3 chi bộ sinh viên (43 đảng viên). Năm 1967, Liên chi đảng có 50 đảng viên, gồm 1 chi bộ cán bộ (24 đảng viên) và 4 chi bộ sinh viên (26 đảng viên).

Trong những năm này, Phó ban Lãnh đạo Lê Hoàng Long được bầu làm Bí thư Liên chi Đảng (1963 - 1967). Ông Nguyễn Minh Lí là Thư kí Công đoàn (1963 - 1966). Bí thư Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam là sinh viên khoá l Vũ Đức Đảm (1963 - 1965) và sinh viên khoá Il Nguyễn Thế Quế (1965 - 1967).

Lớp học, xường vẽ, nhà làm việc, nhà ở, nhà ăn,...tuy là công trình cấp 4, nhưng rộng rãi thoáng mát. Điều kiện sinh hoạt, học tập của sinh viên được cải thiện nhiều. Mỗi lớp sinh viên có một xưởng đồ án riêng. Trong xường, mỗi sinh viên có một bàn thiết kế với hộc bàn có khoá riêng. Kèm theo, mỗi sinh viên có thêm 1-2 bảng vẽ to, 1-2 bảng vẽ nhỏ (planchette)) đủ thước chữ T và một bộ ê ke. Giấy can, giấy in báo và giấy vẽ dùng cho việc nghiên cứu sơ phác tìm ý, thể hiện đồ án, được cấp đủ cho sinh viên theo từng bài tập đồ án. Không khí học tập nghiên cứu sáng tác chuyển biến rất tốt. Sau giờ học lí thuyết, sinh viên luôn có mặt tại xướng thiết kế, kết quả học tập tiến bộ nhanh.

Khi giao nhiệm vụ thiết kế, thày giáo chủ trì kết hợp giảng nguyên lí thiết kế loại công trình tương ứng. Sinh viên được tham quan công trình, và đọc sách xem tạp chí tại thư viện trường để thu thập tư liệu liên quan. (sách chuyên đề, tạp chí kiến trúc các nước Liên xô (cũ), Trung quốc, Đức, Rumani, Ba Lan, Tiệp, Bungari, Pháp).

Thày giáo hướng dẫn đồ án theo Tổ học tập. Mỗi tuần có 2 đến 3 buổi học đồ án (10 - 15 tiết). Mỗi buổi, thày gặp từng sinh viên, kiểm tra, góp ý sửa chữa và vạch hướng nghiên cứu tiếp, cho đến khi hoàn chỉnh đồ án.

Đồ án được thể hiện tập trung tại Xưởng, giúp cho sinh viên học hỏi lẫn nhau từ nội dung đến phương pháp thể hiện. Sinh viên thường góp ý phương án lẫn nhau, giúp sửa chữa mảng cây, chữ viết. Tuyệt nhiên không có tình trạng làm giúp - vẽ hộ. Những đồ án có nhiều bản vẽ, sinh viên thường phải làm cả ban đêm. Các đồ án chuyên ngành, bên cạnh thày giáo kiến trúc, còn có các thày giáo kĩ thuật như kết cấu, thi công, vật lí kiến trúc, điện nước, giao thông... Các thày họp thống nhất nhiệm vụ, yêu cầu, và phương pháp hướng dẫn.

Việc chấm đồ án là nhiệm vụ của Bộ môn. Đồ án của sinh viên được treo trên xưởng để các thày trong Bộ môn xem kĩ, chỉ ra những điểm tốt, điểm chưa tốt; rồi thảo luận, đánh giá, cho điểm. Đôi khi có những cuộc tranh luận khá căng thẳng giữa các thày giáo trong nhóm chấm bài. Khi trả bài, thày giáo phân tích từng bài của sinh viên. Qua mỗi đồ án, sinh viên tiếp thu được một lượng kiến thức mới, có tiến bộ vững chắc.

Khi tách ta khỏi Thường Đại học Bách khoa, chỉ có khoá l và khoá II (1961, 1962), gồm trên 200 sinh viên chuyển về bãi Phúc Xá. Khoá III 30 sinh viên thuộc chỉ tiêu của Đại học Bách khoa nên được đào tạo tiếp tại khoa Xây dựng. Năm học 1964, Lớp Đại học kiến trúc tuyển 25 sinh viên khóa IV. Các năm sau: khoá V, khoá Vl, khoá VII, chỉ tiêu ổn định cho mỗi khoá 40 sinh viên. Việc thi tuyển theo qui chế chung của Bộ Giáo dục, với 4 môn thi: Toán, Vật lí, Làm Văn, Vẽ Mĩ thuật.

Từ năm thứ ba sinh viên bắt đầu tập làm nghiên cứu khoa học. Các nhóm nghiên cứu hình thành theo tổ học tập. Dưới sự hướng dẫn của các thày giáo các nhóm đã thực hiện một số đề tài khoa học: chuyên đề về nhà trẻ, nhà ăn tập thể, trường học, nhà ở nông thôn, ...

Việc nghiên cứu khoa học của sinh viên thời kì đó mang tính chất tập dượt, xây dựng tư liệu phục vụ việc học tập. Mỗi nhóm từ 3 - 5 sinh viên, có sinh viên khá giỏi trung bình, đề cương nghiên cứu được Thày giáo thông qua. Mỗi tuần nhóm nghiên cứu có 1 - 2 lần đi khảo sát thực tế một số công trình có ở nộị ngoại thành, vẽ ghi trao đổi với người sử dụng về những ưu khuyết điểm của công trình. Nhóm cũng sưu tầm các công trình trong các tạp chí kiến trúc, có ý kiến nhận xét chủ quan của nhóm. Các mẫu khảo sát đều vẽ lại nghiêm chỉnh, từ 8 - 10 mẫu. Mỗi chuyên đề phải làm một báo cáo tổng quan.

Kì hè năm 1964, theo đề xuất của KTS. Đoàn Văn Minh và yêu cầu của Ty Văn hoá Hà Tây, một Đoàn công tác thực tế 20 sinh viên khoá l do các Thày giáo Đàm Trung Phường, Vũ Tam Lang, Đặng Quí Khoa hướng dẫn, về khu Thắng cảnh Hương Sơn làm công tác NCKH, thiết kế phục vụ sản xuất.

Khi Thày trò đang hăng say lăn lộn thực địa, sơ phác qui hoạch, thiết kế sơ bộ một số công trình, thì sảy đến vụ đánh phá đầu tiên của đế quốc Mĩ vào vùng biển Quảng Ninh, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ ra miền Bắc.

Sau 7 học kì với 12 đồ án, khoá l được phân ngành: kiến trúc dân dụng: 50 sinh viên, kiến trúc công nghiệp: 24 sinh viên, qui hoạch đô thị và nông thôn: 24 sinh viên. Mỗi ngành thực hiện tiếp 2 đồ án chuyên ngành, học thêm một số môn chuyên đề và làm đồ án tốt nghiệp.

Giữa học kì VIII, sinh viên ngành dân dụng đã được giao sớm đề tài tốt nghiệp, để tranh thủ thời gian nghiên cứu lập nhiệm vụ thiết kế. Thời điểm này (1965), Bộ Kiến trúc có nhiệm vụ thiết kế xây dựng một số công trình, Trường đã chọn 10 sinh viên xuất sắc đến tham gia công tác thiết kế tại Viện thiết kế dân dụng. Dưới sự hướng dẫn của các kiến trúc sư lâu năm, anh em đã tham gia sơ phác công trình Triển lãm Giảng Võ, khách sạn Đồ Sơn, khách sạn Bãi Cháy, khách sạn Tam Đảo và các biệt thự của Trung ương ở Tam Đảo, Quảng Ninh...

Đế quốc Mĩ liều lĩnh đem máy bay đánh phá Miền Bắc. Tháng 5.1965, Trường phải rời Hà Nội, sơ tán về xã Thuỵ Vân, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Đây là vùng nông thôn trung du, xóm làng xen lẫn rừng cọ đồi chè. Được sự giúp đỡ hết lòng của Chính quyền và nhân dân địa phương, chỉ trong thời gian ngắn, chúng ta dựng được hội trường, lớp học, nhà ăn, nhà bếp. Thư viện thì mượn nhà dân. Những ngôi nhà gỗ 5 gian, 3 gian lợp lá cọ, có hàng hiên rộng thoáng mát, được dân làng nhường cho Thày trò làm nơi học tập, nghỉ ngơi.

Tại đây chúng ta đã tuyển sinh tiếp các khóa V (65 - 70), khoá Vl (66 - 71), Khoá VII (67 - 72). Mỗi khóa 40 sinh viên.

Đáp ứng nhu cầu cấp thiết về cán bộ thiết kế của Bộ, tháng 5.1965, sau khi học xong chương trình khoá học, 50 sinh viên ngành kiến trúc dân dụng khoá l được nhận công tác. Một năm sau, sinh viên được chọn một công trình thiết kế thực tế mà sinh viên đã làm đề phát triển thành đồ án tốt nghiệp. Cuối năm 1966, sinh viên nộp đồ án thực tế và bảo vệ tốt nghiệp.

Hai ngành Kiến trúc công nghiệpQui hoạch đô thị vẫn được học tiếp các chuyên đề, làm đồ án chuyên ngành và bảo vệ đồ án tốt nghiệp tại Trường nơi sơ tán xã Thuỵ Vân vào tháng 4.1966.

Lễ tốt nghiệp khoá I có ý nghĩa to lớn. dù ở nơi sơ tán xa Thủ đô, nhưng được tổ chức khá trang trọng, khách mời có Đại diện hai Bộ, đại biểu Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam và địa phương. Trong lễ tốt nghiệp, Thứ trưởng Nguyễn Cao Luyện thay mặt Bộ Kiến trúc và Ban Lãnh đạo Lớp Đại học kiến trúc đánh giá kết quả học tập rèn luyện của sinh viên, cảm ơn các thày giáo, cán bộ cán bộ nhân viên đã làm nên thành quả rất đáng tự hào. Một đội ngũ Kiến trúc sư trẻ, đáng tin cậy, sản phẩm đầu tiên của Lớp Đại học Kiến trúc. Nhắc lại chuyện Bác Hồ gặp và giao nhiệm vụ cho giới Kiến trúc, Ông hồ hởi nói: Nay chúng ta vui mừng quá, quí quá, đã phần nào báo công được với Bác.

Thay mặt Bộ Đại học và THCN, Thứ trưởng Hoàng Xuân Tuỳ cũng phát biểu: ...''Nếu có người khách nước ngoài nào đến thăm rừng cọ này thấy chúng ta đào tạo những Kiến trúc sư vẽ nên những công trình cao đẹp, hiện đại để xây dựng đất nước ta trong tương lai, họ không những sẽ ngạc nhiên và càng thấy rõ lòng tin tuyệt đối của chúng ta vào thắng lợi hoàn toàn của nhân dân ta. Họ thấy rõ ý chí cao đẹp của những chàng trai quyết tâm nắm lấy khoa học kĩ thuật để làm chủ công cuộc xây dựng đất nuộc của mình sau này".

Những nhận xét đánh giá của các đại biểu thêm một lần khẳng định chất lượng đào tạo của khoá l là tốt. Khi ra trường, anh chị em nhanh chóng kế tục công việc sáng tác và quản lí chuyên môn của các bậc cha anh.

Trong số 107 sinh viên khoá 1, có 4 người không học hết khoá, 6 người chuyển sang học tập và làm đồ án tốt nghiệp với các khoá sau.

Khi ra trường có gần 60% được trực tiếp hành nghề thiết kế, đều có công trình. Trong số này có một số Kiến trúc sư xuất sắc như: Lương Anh Dũng, Hoàng Minh Phái, Nguyễn Vũ Hưng, Tạ Xuân Vạn. Diêu Công Tuấn, Nguyễn Triệu, Tạ Trường Xuân, Lê Quang Hải, Nguyễn Thế Khải, Nguyễn Xuân Thử, Đỗ Thế Sính,Trần Bảo Châu, Trần Ngọc Lân, Nguyễn Đăng Kiểm, Nguyễn Đắc Nghinh, ....

Trong số 12 Kiến trúc sư làm công tác giảng dạy đại học và ở Viện Nghiên cứu, có 6 Kiến trúc sư đạt học vị Tiến sĩ: TS. Lê Quang Hải, TS. Nguyễn Bá Đang, TS. Nguyễn Hữu Tài, TS. Vũ Duy Cừ, TS. Đỗ Thế Sính, TS. Tạ Trường Xuân. Có người được phong hàm Phó Giáo sư và Nhà giáo ưu tú: NGƯT,PGS.TS. Nguyễn Bá Đang, NGƯT. PGS.TS. Nguyễn Hữu Tài.

KTS. Nguyễn Ngọc Nhã giữ nhiệm vụ Phó Hiệu trưởng một nhiệm kì (1976 - 1978). KTS.Vũ Đức Đảm giữ nhiệm vụ Bí thư đảng ủy Trường 3 nhiệm kì (1988 - 1994), 7 Kiến trúc sư giữ nhiệm vụ Chánh Phó Giám đốc Sở Xây dựng (Trần Ngọc Điều, Nguyễn Hoàng, Hoàng Văn Thịnh, Nguyễn Trảo, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Đình Châu, Nguyễn Xuân Đào).

12 Kiến trúc sư phụ trách cơ quan Thiết kế Qui hoạch kiến trúc ở Trung ương và địa phương (Nguyễn Ngọc Nhã, Nguyễn Thú, Lương Anh Dũng, Phạm Hữu Chung, Vũ Đức Đảm, Nguyễn Đăng Kiểm, Phạm Văn Mộc, Nguyễn Văn Thanh, Đặng Như Tất, Hoàng Văn Thịnh, Nguyễn Đắc Nghinh, Cao Kim Qui.)

Trong 2 năm 1965, 1966, Đội ngũ cán bộ giảng dạy và cán bộ nhân viên được bổ sung thêm 30 người, đảm bảo chủ động tổ chức giảng dạy học tập tại nơi sơ tán xa Thủ đô.

Về Kiến trúc có thêm 7 Kiến trúc sư tốt nghiệp khoá l được giữ lại trường: Lê Quang Hải, Vũ Đức Đảm, Nguyễn Bá Đang, Vũ Duy Cừ, Nguyễn Hữu Tài, Hoàng Văn Sâm, Vũ Khắc Vấn và 5 Kiến trúc sư tốt nghiệp tại Liên Xô và Trung Quốc trở về: Nguyễn Kim Sến, Lê Dũng Thức, Nguyễn Đăng Linh, Kiều Ngọc Đăng, Văn Thiên.

về Mĩ thuật có thêm HSĐK.Trần Tía, HS.Tô Duy.

Về Kết cấu, có thêm KS. Nguyễn Văn Đô.

Về Chính trị có thêm KTS. Nguyễn Đức Khoái.

Cán bộ nhân viên có thêm: Lê Minh Chúc, Nguyễn Chính Xích, Phạm Văn Thuyết, Hoàng Văn Thúc, Đặng Đức Cường, Nguyễn Thị Cận, Đỗ Gia Thịnh, Võ Đắc Thắng, Nguyễn Văn Điền, Nguyễn Thị Thủy.

Khoá II được tuyển từ 2 nguồn: Bộ kiến trúc tổ chức kì thi tuyển cán bộ trong ngành, có 40 thí sinh trúng tuyển và thi tuyển năng khiếu trong sinh viên khoá VII trường Đại học Bách khoa, chọn 60 sinh viên.

Số cán bộ trong ngành trúng tuyền khoá II:

Nguyễn Văn Cát, Lữ Linh Châu, Trần Minh Châu, Bùi Danh Dương, Nguyễn Thành Đức, Vũ Văn Đức, Phạm Tấn Đạt, Nguyễn Quang Giao, Lê Thế Hách, Nguyễn Hiền, Lê Mạnh Hiền, Bùi Văn Hiệt, Hoàng Hữu Hiệt, Trương Đình Hồng, Phan Hùng, Trần Ngọc Hùng, Đậu Xuân Huy, Nguyễn Khắc Huy, Lê Hương, Nguyễn Xuân Hựu, Nguyễn Đức Khoái, Vũ Thái Lộc, Hà Thế Luân, Phạm Phúc Lượng, Phạm Lưu, Trương Xuân Mai, Trần Đắc Ninh, Lê Phát, Nguyễn Văn Phú, Đỗ Hữu Phụ, Võ Trọng Phượng, Nguyễn Thế Quế, Nguyễn Hữu Quì, Nguyễn Phúc Thành, Nguyễn Văn Tiến, Lê Hải Trừng, Chu Kim Tuyến, Nguyễn Đào Viên, Phạm Ngọc Xưởng, Nguyễn Bạch Yến...

Số sinh viên Đai học Bách khoa trúng tuyển khoá II:

Trần Quốc An, Ngô Bách, Thân Văn Bạn, Nguyễn Thiện Bảo, Vũ Quốc Bảo, Nguyễn Mạnh Chu, Nguyễn Đức Cường, Vũ Khắc Đôn, Nguyễn Khắc Đạt, Trần Tiến Đạt, Nguyễn Văn Đính, Phạm Lê Đức, Bùi Vinh Hạnh, Trần Hiển, Lê Đình Hiệp, Trần Gia Khiêm, Phan Trọng Khiêm, Nguyễn Địch Long, Phạm Khắc Lộc, Ngô Thế Luân, Đặng Minh, Đoàn Thị Mỹ, Phạm Vũ Mỹ, Đào Ngọc Nghiêm, Đỗ Văn Ngoã, Phạm Cao Nguyên, Đào Nguyễn, Hoàng Minh Nhuận, Trần Thị Ninh, Nguyễn Huy Phách, Mạc Kính Phong, Vũ Quang Phú, Nguyễn Thanh Phúc, Trần Phùng, Trần Ngọc Quang, Cao Sĩ Quế, Đàm Văn Sức, Trần Văn Tam, Phan Minh Tâm, Vũ Minh Tân, Nguyễn Quốc Thái, Vũ Trọng Thanh, Nguyễn Hữu Thành, Phạm Hữu Thăng, Hà Văn Thọ, Trần Xuân Toản, Nguyễn Thế Truyền, Trịnh Đức Tuấn, Lê Vinh, Nguyễn Hồng Việt.

số sinh viên lớp trên chuyển xuống:

Nguyễn Ngọc Đính, Nguyễn Thị Đông, Bùi Minh Đức, Nguyễn Thúc Nhương, Trần Đông Rạng,

Lê Tử Kì (từ trường ĐH kiến trúc Mascva chuyển về).

Khoá II có một số thuận lợi hơn khoá l. Trước hết là việc khai thác những kinh nghiệm từ khoá l. Mặt khác, bên cạnh các thày giáo lâu năm, có bổ sung một lực lượng thày giáo trẻ mới được tiếp cận với xu hướng kiến trúc hiện đại có tư duy mới mẻ. Những yếu tố này tác động tốt đến học tập, rèn luyện tài năng sáng tác của sinh viên. Thời gian khoá học cũng 4,5 năm. Đầu học kì VIII khoá II được phân ngành tương tự khoá l: 50 sinh viên kiến trúc dân dụng, 25 sinh viên kiến trúc công nghiệp, 25 sinh viên qui hoạch đô thị và nông thôn.

Lễ tốt nghiệp của khoá II cũng được tổ chức trang trọng và đông khách dự. Đề tài tốt nghiệp là những công trình giả định. Nội dung đồ án, phong cách thể hiện và mầu sắc dùng rất phong phú. Có Phòng trưng bầy đồ án. Hội trưởng bảo vệ được trang trí hoa văn rực rỡ. Trước Hội trường có cổng chào kết bằng lá cọ. Mừng thành công có mở tiệc ăn tươi nhờ kết quả chăn nuôi của nhà bếp và sinh viên. Buổi tối kết thúc có liên hoan văn nghệ ''cây nhà lá vườn" mừng các bạn tân khoa, rất vui. Thày Tạ Mĩ Duật hứng khởi xướng lên một điệu ca trù. Thày Trần Hữu Tiềm và ai đó đế thêm tiếng phách tiếng đàn miệng. Các thày đã có tuổi nhưng không một ai câu nệ, cùng hát cùng vui. cùng đều nhởn nhơ cảm khoái. Phối cùng nhau, tất cả âm hưởng đều được phát ra từ miệng. Kẻ tung người hứng, kẻ xướng người hoạ, rôm rả.

Thật là:

...T...rách, tách tách..'', tiếng phách rộn ràng gõ nhịp,

... ''Phưng, phừng, phưng tiếng đàn Đáy khi nhấn, lúc dồn,

...''Tom, chát, tom'', tiếng trống chầu đĩnh đạc điểm khổ, điểm câu.