|
I .
Hoàn cảnh hình thành sự nghiệp đào tạo kiến trúc sư trong chế độ xã hội
chủ nghĩa Việt Nam
1.1. Đào tạo Kiến trúc sư ở Việt Nam trước Cách
mạng Tháng 8.1945
Trước Cách mạng tháng 8.1945, chính quyền thực dân Pháp đã tổ chức đào tạo
Kiến trúc sư với qui mô nhỏ trong Trường Mĩ thuật Đông Dương.
Mục tiêu ban đầu của Trường, như Nghị định thành lập ngày 27.10.1924, của
Toàn quyền Đông Dương M. Merlin là: ... đào tạo giáo viên nghệ thuật và
hội hoạ cho các trường thành chung và dạy nghề trang trí.
Năm 1925 Trường bắt đầu tuyển sinh, trong đó có ngành Nghệ thuật kiến
trúc Viễn đông. Hình thức đào tạo theo xưởng, mỗi khoá chỉ tuyển từ 2
đến 5 sinh viên. Sau gần 20 năm, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương
đào tạo được trên 20 Kiến trúc sư
Đầu năm 1945, cuộc chiến tranh thế giới thứ II lan đến Việt Nam, Trường
Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương di chuyển về Sơn Tây và Đà Lạt rồi ngừng
hoạt động. Ngày 19.12.1946, cuộc Trường kì kháng chiến chống thực
dân Pháp của nhân dân ta bùng nổ. Thày trò xếp bút nghiên lên đường kháng
chiến.
Qua tìm hiểu, sinh
viên kiến trúc các khoá như sau:
1925 - 1930: Nguyễn Xuân Phương, Lê Quang
Tỉnh
1926 - 1931: Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Tường
Tam
1927 - 1932: Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như
Tiếp
1928 - 1933: Trần Hữu Tiềm, Nguyễn Gia Đức
1929 - 1934: Bạch Văn Trụ, Phan Văn Hoá,
Đoàn Ngọ
1930 - 1935: Võ Đức Diên, Đoàn Văn Minh
1931 - 1936: Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Ngọc
Diệp
1932 - 1937: Hoàng Linh, Phạm Hoàng (Phạm
Khắc Hệ)
1934 - 1939: Nguyễn Ngọc Chân, Nguyễn Nghi,
Tạ Mĩ Duật, Nguyễn Ngọc Ngoạn
1938 - 1943: Ngô Huy Quỳnh, Khổng Toán, Phạm
Khắc Nhu, Lương Tấn Khoa
1940 - 1945: Huỳnh Soàn, Nguyễn Văn Đường,
Đỗ Bá Vinh
1942 - 1947: Đàm Trung Phường, Dương Hi
Chấn, Đàm Trung Lãng, Huỳnh Kim Mãng
1943-1948: Vương Quốc Mĩ, Nguyễn Văn Thâng,
Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Quang Nhạc
1944-1949: Nguyễn Văn Long, Nguyễn Sanh
Kha, Võ Như Tỉ, Võ Thành Nghĩa, Ngô Viết Thụ.
Một số sinh viên đang học dở dang đã qua Pháp tiếp tục học tập và bảo vệ
tốt nghiệp tại Paris như các ông Huỳnh Kim Mãng, Nguyễn Văn Thâng, Nguyễn
Quang Nhạc, Ngô Viết Thụ, Võ Thành Nghĩa...
1.2. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, không
có điều kiện đào tạo kiến trúc sư.
Sau cách mạng tháng Tám, chính quyền cách mạng đã có chương trình đào tạo
đại học - cao đẳng chuyên nghiệp. Trường Cao đẳng Giao thông - Công
chính ra đời, trong đó có ngành kiến trúc. Do hoàn cảnh kháng chiến,
Trường Cao đẳng Giao thông - Công chính chỉ đào tạo hệ Trung cấp kĩ
thuật.
Từ 1946 đến năm 1954, Trường Cao đẳng Giao
thông - Công chính tuyển được 6 khoá trung cấp kĩ thuật. Năm 1955, Trường
này chia thành 2 trường: Trung cấp Giao thông và Trung cấp Thuỷ
lợi - Kiến trúc. Các trường này tuyển sinh khoá VII vào năm học 1955 –
1956. Năm 1958, trường Trung cấp Thuỷ lợi - Kiến trúc lại chia
thành 2 trường: Trung cấp Thuỷ lợi Nam Hà và Trung cấp kiến trúc Hà Đông
(nay là trường Cao đẳng xây dựng số l).
Trong hoàn cảnh kháng chiến, không có điều kiện để tổ chức đào tạo ngành
học kiến trúc, Đảng và Nhà nước đã nhắc nhở ngành Giáo dục và ngành Kiến
trúc chuẩn bị cho công tác này khi kháng chiến thắng lợi.
Bác Hồ - hiện thân của Đảng và nhà nước, đã
nhìn xa thấy rộng. Trong những năm kháng chiến, Bác đã nghĩ đến công cuộc
kiến thiết đất nước sau này. Cố KTS. Nguyễn Cao Luyện có lần kể lại
trước cán bộ và sinh viên rằng: Khi ở Việt Bắc, tuy bộn bề công việc cùng
Trung ương Đảng và Chính phủ chỉ đạo công cuộc Trường kì kháng chiến, Ông
Cụ vẫn bố trí thời gian gặp gỡ hầu hết giới trí thức.
Riêng buổi gặp các Kiến trúc sư, một ấn
tượng bất ngờ không thể quên. Bác hỏi cả nước hiện nay có được bao nhiêu
Kiến trúc sư, những ai đi theo kháng chiến,có mang theo gia đình không, có
yêu cầu giúp đỡ gì không. Sau lời hỏi thăm ân cần đó, Bác nói tiếp: “Kháng
chiến trường kì gian khổ đấy nhưng nhất định thắng lợi. Số lượng Kiến trúc
sư như vậy là quá ít, sau này các chú sẽ gặp khó khăn đấy. Ngay từ bâygiờ
các chú hãy hình dung trước những công việc phải làm. Kiến trúc phải làm
gì và làm như thế nào để nhanh chóng khôi phục lại đất nước. Phải có những
bước đi như thế nào để đuổi kịp các nước tiên tiến, nhưng vẫn mang được
cốt cách của một đất nước vốn đã có hàng ngàn năm văn hiến. Người ta sống
cần có nhà để ở, có trường để học hành, có chợ có cửa hàng để giao lưu
buôn bán, có bệnh viện để chăm lo sức khoẻ,... Kiến trúc cần cho cuộc
sống. Mỗi dân tộc thậm chí mỗi vùng đều có một nền kiến trúc riêng. Kiến
trúc của ta, theo Bác, nó không đồ sộ, nhưng rất tinh tế, rất gắn bó với
tâm tư tình cảm của con người Việt
Nam... Lực lượng chuyên môn còn mỏng lắm,
phải nghĩ đến việc mở trường đào tạo. Các chú suy nghĩ đi, rồi kiến nghị
với Bác”. Lời của Bác thực sự lay
chuyển tâm can mọi người, củng cố niềm tin vào cuộc kháng chiến thần thánh
của dân tộc, mở ra một chân trời rộng lớn về tương lai và về nhiệm vụ của
ngành, của mỗi người, trong đó có vấn đề xây dựng một nền kiến trúc Việt
Nam và đào tạo Kiến trúc sư Việt Nam.
 |
|
Lớp học Kiến trúc đầu tiên
tại núi rừng Việt Bắc |
Thế là tại núi rừng Việt Bắc trong những năm kháng chiến chống thực dân
Pháp, đã có một lớp kiến trúc đặc biệt và duy nhất. Thày giáo là các
Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Trần Hữu
Tiềm, Tạ Mĩ Duật. Sinh viên là các ông Dương Hi Chấn, Đàm Trung
Phường, Đàm Trung Lãng, Vương Quốc Mĩ - những sinh viên kiến trúc
trường Cao đẳng mĩ thuật đang học dở dang. Các ông được hoàn thành chương
trình khoá học và bảo vệ đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư tại Việt Bắc.
1.3. Sau ngày Hoà bình lập lại trên miền Bắc
(1954), chưa đủ điều kiện đào tạo Kiến trúc sư.
Năm 1954, nửa đất nước có hoà bình. Đảng và Chính phủ đã có kế hoạch đào
tạo cán bộ cho việc khôi phục và phát triển kinh tế - văn hoá. Năm 1955
-1956, bốn Trường Đại học khai giảng: Đại học Bách khoa, Đại học Tổng
hợp, Đại học Sư phạm và Đại học Kinh tế quốc dân.
Trong khoá l của khoa Xây dựng Trường Đại học Bách khoa (1956) có Tổ 29
gồm 26 sinh viên theo học ngành Kiến trúc. Nhưng do chưa đủ các điều kiện
cơ sở vật chất kĩ thuật và đội ngũ Cán bộ giảng dạy về kiến trúc, nên sau
một học kì, số sinh viên ngành học này trở lại học ngành xây dựng. Một số
kĩ sư khoá này ra trường về công tác trong ngành kiến trúc, sẵn có năng
khiếu và lòng say mê nghề nghiệp, đã trở thành những cán bộ đầu đàn như
GS.TS. Nguyễn Mạnh Kiểm, PGS.TS. Trương Tùng, GS.TSKH. Nguyễn Trâm,
GS.TSKH. Phạm Ngọc Đăng, PGS. Trần Hùng, PGS.TS. Nguyễn Đức Thiềm, PGS.TS.
Tôn Đại, PGS. Lê Kiều, PGS. Hoạ sĩ Đặng Quí Khoa, KTS. Lê Văn Lân, TS.
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, KS. Đinh Đức Vinh...
Như vậy là thời gian đầu sau khi hoà bình được lập lại ở Miền Bắc cho đến
năm 1960, chúng ta chưa hội đủ điều kiện để mở ngành đào tạo kiến trúc sư.
VÒ ®Çu
trang
II. Lớp đào tạo Kiến trúc sư (1961 -1967) - Tiền thân của Trường Đại học
Kiến trúc Hà Nội
II.1. Bối cảnh kinh tế xã hội
Sau kế hoạch 3 năm khôi phục (1955-1957), nước ta bước vào giai đoạn phát
triển kinh tế văn hoá với kế hoạch 3 năm 1958 - 1960. Bước đầu chúng ta
phải nhờ nước bạn giúp thiết kế một số nhà máy, khu nhà ở mới như Nhà
máy cơ khí Hà Nội, nhà máy điện Vinh, nhà máy tuyển quặng crômít Thanh
Hoá, nhà máy tuyển quặng Apatít Lao Cai, Khu gang thép Thái Nguyên, Khu
nhà ở Kim Liên... Tiếp theo, chúng ta phải tự đảm đương công việc
thiết kế xây dựng những công trình của mình.
Năm 1958, Bộ Kiến trúc được thành lập. Nhu cầu về kiến trúc sư rất lớn và
rất cấp thiết. Số kiến trúc sư được đào tạo trước Cách mạng không nhiều,
và phần lớn lại đảm đương trọng trách quản lí nhà nước.
Thống kê sơ bộ như
sau:
Ngành Công trình
có 11 Kiến trúc sư: Nguyễn Văn
Ninh, Nguyễn Cao Luyện, Trần Hữu Tiềm, Nguyễn Ngọc Chân, Đoàn Văn Minh,
Đoàn Ngọ, Nguyễn Nghi, Dương Hi Chấn, Vương Quốc Mĩ, Đàm Trung Lãng và
KTS. Nguyễn Hữu Thứt ở Hungari mới về
Ngành Qui hoạch đô thị và Nông thôn
có 4 Kiến trúc sư: Hoàng Như
Tiếp, Ngô Huy Quỳnh, Khổng Toán, Đàm Trung Phường.
Thủ đô Hà Nội
có 2 Kiến trúc sư: Tạ Mĩ Duật,
Nguyễn Ngọc Ngoạn.
Quốc phòng
có 2 Kiến trúc sư: Hoàng Linh,
Phạm Hoàng.
Trong số 19 Kiến trúc sư kể trên đã có 12 vị
làm công tác quản lí cấp công ty, Cục, Vụ, Viện và Bộ; 3 vị đang thực tập
và nghiên cứu sinh ở nước ngoài.
Số sinh viên gửi đi đào tạo ở nước ngoài mỗi năm có 2 - 5 người. Sớm nhất,
năm 1961 sẽ có 2 Kiến trúc sư tốt nghiệp ở Bắc Kinh là Nguyễn Kim Luyện
và Vũ Tam Lang. Tới năm 1963 sẽ có thêm 4 Kiến trúc sư tốt nghiệp ở
Mascva là Nguyễn Trực Luyện, Huỳnh Lẫm, Trịnh Nhưng, Võ Thuộc.
Bộ kiến trúc do Bộ Trưởng Bùi Quang Tạo chủ trì đã có chủ trương và
quyết tâm tổ chức việc đào tạo Kiến trúc sư ở trong nước. Trước mắt, khi
chưa đủ điều kiện mở Trường Đại học thì cần mở lớp đại học.
Thứ trưởng KTS. Nguyễn Cao Luyện được phân công đặc trách công tác
này. Năm 1960, Ông được cử đi khảo sát việc đào tạo kiến trúc sư tại Trung
Quốc.
II.2. Tháng 6.1961, Lớp Đào tạo Kiến trúc sư ra
đời.
Ngày 21.4.1961, Bộ kiến trúc có văn bản số 1205.BKT.TCCB trình Chính phủ
xin mở Lớp Đào tạo Kiến trúc sư. Số lượng xin tuyển năm 1961 là 100
sinh viên. Kiến trúc sư Nguyễn Nghi, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường
Trung cấp kiến trúc Hà Đông, Phó Chủ nhiệm công ty kiến trúc Việt Trì được
điều động về Bộ nghiên cứu soạn thảo mục tiêu - kế hoạch - chương trình
đào tạo và đề xuất lực lượng cán bộ giảng dạy.
Ngày 8.6.1961, Chính phủ có văn bản số 1927.CN, cho phép Bộ Kiến trúc mở
Lớp đào tạo Kiến trúc sư. Nội dung chính của văn bản là:
1) Cho phép Bộ Kiến trúc mở lớp đào tạo kiến trúc sư với số lượng tuyển
sinh năm 1961 là 100 người.
2) Về đối tượng tuyển sinh của lớp kiến trúc sư chủ yếu là lấy số cán
bộ đang làm công tác kiến trúc và số học sinh trung cấp kiến trúc. Nếu 2
nguồn cung cấp này không thể đảm bảo số tuyển sinh nói trên, thì Bộ Giáo
dục cần chọn trong số học sinh phổ thông thi vào đại học của niên khoá
1961 - 1962 cung cấp cho đủ số lượng 100 nói trên.
3) Bộ Giáo dục và Trường Đại học Bách khoa có trách nhiệm giúp đỡ Bộ
Kiến trúc về mặt trường sở, chỗ ăn ở cho sinh viên, vấn đề thực tập thí
nghiệm, giảng dạy về chính trị, khoa học cơ bản vẽ kĩ thuật ...
4) Uỷ ban Kế hoạch nhà nước căn cứ vào yêu cầu giảng dạy của lớp kiến
trúc sư này mà ghi vào kế hoạch xin chuyên gia giáo sư cung cấp cho Bộ
kiến trúc.
Trong tháng 6.1961, Bộ kiến trúc đã có thông báo tuyển sinh đến các cơ
quan thiết kế của các Bộ, các ngành, các địa phương. Đầu tháng 8.1961, kì
thi tuyển sinh được tổ chức. Đối tượng tuyển sinh là cán bộ đang công tác
trong các cơ quan thiết kế xây dựng ở Trung ương và các địa phương đã tốt
nghiệp phổ thông cấp 3. Thí sinh thi 4 môn: Toán, Vật lý, Làm văn, Vẽ
Mĩ thuật. Có 24 thí sinh trúng tuyển.
Cùng thời gian, Bộ đã tuyển chọn 60 học sinh khoá 12 Trường Trung cấp
Kiến trúc Hà Đông. Số anh chị em này đã hoàn thành chương trình văn
hoá tương đương phổ thông cấp 3, có kết quả xuất sắc.
Sau ngày nhập học, Trường Đại học Bách khoa tổ chức thi tuyển môn
Vẽ Mĩ thuật cho số sinh viên trúng tuyển vào khoá 6 ngành xây dựng, chọn
thêm 20 sinh viên.
Cán bộ trong ngành
trúng tuyển kì thi tháng 8.1961:
Tạ Thanh Cao. Trương Vi Dân . Nguyễn Văn
Dự. Vũ Đức Đảm. Trần Văn Điểm. Trần Ngọc Điều. Bùi Minh Đức. Nguyễn Ngọc
Giả. Lê Quang Hải. Nguyễn Trọng Hùng. Vũ Khang. Nguyễn Đăng Kiểm. Nguyễn
Lang. Trần Ngọc Lân. Trần Anh Minh. Phạm Văn Mộc. Trần Quang. Ngô Gia
Phúc. Vũ Minh Sơn. Tống Duy Tế. Võ Hoa Thiếm. Nguyễn Thú. Nguyễn Ngọc Thư.
Nguyễn Ngọc Uyển.
Học sinh Trung cấp
Kiến trúc K.12 được tuyển:
Vũ Đình Ấm. Nguyễn Đình Châu. Đinh Văn
Chéo. Phạm Hữu Chung. Nguyễn Chương. Vũ Công Cơ. Vũ Duy Cừ. Nguyễn Công
Cử. Nguyễn Minh Dục. Lương Anh Dũng. Trần Đăng Duyến. Trần Đàm. Nguyễn
Xuân Đào. Nguyễn Thị Đông. Nguyễn Minh Đức. Đoàn Ngọc Đương. Huỳnh Hiền.
Đoàn Quang Hiển. Đỗ Đình Hoa. Nguyễn Thế Khải. Bành Văn Khang. Nông Văn
Khoan. Hoàng Văn Khương. Trịnh Thị Liên. Hoàng Lương. Nông Văn Mạnh.
Nguyễn Ngọc Nhã. Vũ Nhã. Nguyễn Thúc Nhương. Nguyễn Khắc Nhượng. Trương
Ngô. Hoàng Minh Phái. Phạm Thanh Phúc. Cao Kim Qui. Trần Đông Rạng. Mai
Văn Riễn. Hoàng Văn Sâm. Nguyễn Văn Sanh. Nông Văn Tạch. Nguyễn Hữu Tài.
Đặng Như Tất. Nguyễn Thái. Nguyễn Văn Thanh. Nguyễn Ngọc Thanh. Hoàng Văn
Thịnh. Phan Văn Thiệp. Lê Hoàng Thọ. Hoàng Đình Thoan. Nguyễn Xuân Thử.
Nguyễn Thị Trâm. Nguyễn Trảo. Phan Bá Triều. Nguyễn Triệu. Nguyễn Kìm
Trung. Diêu Công Tuấn. Trần Tuấn. Tạ Xuân Vạn. Vũ Khắc Vấn. Nguyễn Khắc
Xương. Nguyễn Hoàng.
Sinh viên K.VI ĐHBK
trúng tuyển qua thi năng khiếu:
Nguyễn Văn Anh. Nguyễn Xuân Ân. Lê Biên.
Trần Bảo Châu. Nguyễn Trí Dũng. Nguyễn Bá Đang. Nguyễn Ngọc Đính. Hứa Ngọc
Hiếu. Nguyễn Vũ Hưng. Tạ Thị Lan Hương. Nguyễn Văn Lộc. Đỗ Thế Sính. Dương
Xuân Tấn. Đỗ Đình Thi. Nguyễn Đình Tiến. Trần Anh Tú. Lâm Quang Vinh. La
Thị Bích Vân. Tạ Trường Xuân.
Lưu học sinh
chuyển tiếp vào năm thứ 3,4:
Nguyễn Đắc Nghinh, từ ĐH Đồng tế Thượng
Hải về
Phạm Gia Du, từ ĐH xây dựng Kiev về
Nguyễn Ngọc Quỳnh, từ ĐH kiến trúc
Mascva về.
Trong số sinh viên trên, có 4 người do bệnh
tật không học hết chương trình:Tạ Thanh Cao, Nguyễn Khắc Xương, Tống
Duy Tế và Trần Tuấn.
lI.3. Tháng 9.1961, khai giảng khoá l.
Khoá đầu được khai giảng ngày 3.9.1961 cùng với khoá VI Trường Đại học
Bách khoa Hà Nội, tại Hội trường 500.
Mục tiêu, chương trình và kế hoạch đào tạo ban đầu được xây dựng trên cơ
sở khung đào tạo là 3,5 năm (như khoá l Trường ĐH Bách khoa),
Chương trình này được xây dựng trên nguyên tắc:
- Những môn cơ bản và cơ sở của ngành học nhằm bảo đảm cho cán bộ có trình
độ cơ bản về phương pháp và năng lực sáng tác thì nhất thiết phải có trong
chương trình: Vẽ mĩ thuật, Hình hoạ, Bóng phối cảnh, Cơ sở kiến trúc,
hệ thống 14 đồ án kiến trúc từ thấp đến cao, Cấu tạo nhà cửa, Thiết bị vệ
sinh,...
- Những môn cơ bản, kĩ thuật cơ sở phụ trợ như Toán cao cấp, Cơ lí
thuyết Sức bền vật liệu, Cơ kết cấu, Kết cấu công trình, Vật liệu xây
dựng,... được phân bổ với số tiết tối thiểu hợp lí, môn trước là cơ sở
của môn sau.
- Những môn nào có thể lùi lại bổ sung sau sẽ không đưa vào chương trình
hoặc có thể kết hợp giảng trong giờ đồ án, như môn Nguyên lí thiết kế
hoặc bố trí số tiết tối thiểu hợp lí, như môn Ngoại ngữ, Lịch sử Kiến
trúc.
Sau đó từ chủ trương mới của Bộ Giáo dục, và ý kiến của Chuyên gia đào tạo
của Liên Xô (cũ) tại Bộ Kiến trúc - Giáo sư TS.AM.Prikhôtkô, Bộ
Kiến trúc đã ấn định chương trình chính thức là 4,5 năm. Chương trình có
đủ các môn lí luận và các môn kĩ thuật cơ sở hoàn chỉnh.
Lớp sinh viên kiến trúc khoá l được phiên chế thành ngành Kiến trúc khoá
VI thuộc khoa Xây dựng Trường Đại học Bách khoa Hà Nội. Bộ kiến trúc đã bổ
nhiệm Ban Lãnh đạo Lớp Đào tạo Kiến trúc sư do Thứ trưởng KTS.
Nguyễn Cao Luyện - Trưởng Ban, KTS. Nguyễn Nghi là Phó Ban
phụ trách công tác giáo vụ. Năm 1963, Đại uý (chuyển ngành) Lê
Hoàng Long được cừ làm Phó Ban về chính trị. Nhân viên giúp việc ban
đầu có các ông Lê Chức, Nguyễn Ngọc Toản, Hà Văn Ân...
Cố Kiến trúc sư
Nguyễn Cao Luyện
để lại trong chúng ta những ấn tượng không phai mờ. Cụ là một Kiến trúc sư
tài năng, có hoài bão và tâm huyết với việc nghiên cứu khai thác phát
triển kiến trúc truyền thống Việt Nam. Trước CM tháng 8, Cụ cùng một số
đồng nghiệp sáng lập và hoạt động trong Nhóm ánh sáng. Ngôi nhà số
7 phố Thuyền Quan là một trong số công trình do Cụ thiết kế hiện vẫn còn
nguyên vẹn. Khi được giao phụ trách Lớp Đào tạo Kiến trúc sư, mặc
dầu bận việc chỉ đạo công tác khoa học kĩ thuật và thiết kế trên Bộ, Cụ
không lơi lỏng công việc tổ chức đào tạo trường. Cụ không trực tiếp giảng
dạy, nhưng thông qua các buổi gặp gỡ, bằng những mẩu chuyện vui nhẹ nhàng,
dí dỏm, Cụ truyền cho cán bộ, sinh viên những hiểu biết về kiến trúc
truyền thống và đem lại cho họ lòng say mê nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm
của mình. Cụ có tâm hồn một nhà thơ. Khi viết hay nói chuyện, Cụ thường
dùng ngôn ngữ giàu cảm súc và thơ minh hoạ. Nói về sự
hài hoà với thiên nhiên của ngôi nhà dân gian Việt Nam, Cụ đọc câu thơ
Nguyễn Trãi:
Hé cửa đêm chờ hương quế lọt,
Quét hiên ngày sợ bóng hoa tan!
Khi chia tay cán bộ và sinh viên chuyển về
Trường Xây dựng, Cụ nói lời động viên rồi mượn câu thơ của Nhà thơ Huyền
Kiêu để tạm biệt:
Sáng tiễn đưa
nhau, chẳng nhớ nhau!
Nửa đêm sực tỉnh bỗng dưng sầu!
...
Số Kiến trúc sư tốt nghiệp Khoá l ngành kiến
trúc dân dụng được giữ lại Trường (Lê Quang Hải, Vũ Đức
Đảm, Nguyễn Bá Đang) đã được Cụ
trực tiếp rèn cặp trong thời gian tập sự giảng dạy. Sự trưởng thành của
anh em mang dấu ấn về trí thức,
về phương pháp nghiên cứu và phong cách làm việc của Cụ. Sau này, khi đến
tuổi nghỉ hưu, thông qua Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam, Cụ vẫn theo
dõi bước đi của Trường, thường xuyên góp ý xây dựng.
Những nhà giáo đầu tiên thuộc biên chế Lớp Đào tạo Kiến trúc sư là:
KTS. Vũ Tam Lang, HS. Đặng Quí Khoa, KS. Dương Tiến Thọ, KS. Lê Văn
Nội, KS. Nguyễn Văn Tợ, KS. Nguyễn Khánh Hội. Năm 1962, 1963 có thêm
KS. Dương Văn Cánh và KTS. Huỳnh Lẫm.
Năm 1966, KS Lê Văn Nội được đi thực
tập nước ngoài. Sau Ông được chuyển về Vụ Tổ chức rồi chuyển tiếp về Thanh
Hoá.
Năm 1966, KS. Nguyễn Văn Tợ chuyển về
Viện thiết kế Thư ơng mại. Sau khi thống nhất đất nước, Ông chuyển về
Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1985, PGS.HS. Đặng Quí Khoa
chuyển về Trường ĐH Mĩ thuật.
TS. Dương Văn Cánh,
nguyên Chủ nhiệm Khoa Xây dựng, lâm bệnh hiểm nghèo, mất năm 1983.
Cán bộ Bộ kiến trúc tham gia giảng dạy có KTS. Nguyễn Văn Ninh, KTS.
Hoàng Như Tiếp, KTS. Trần Hữu Tiềm, KTS. Tạ Mĩ Duật, KTS. Đoàn Văn Minh,
KTS. Đoàn Ngọ, KTS. Nguyễn Ngọc Chân, KTS. Khổng Toán, TS. Vương Quốc Mĩ,
KTS. Nguyễn Hữu Thứt, KS. Vũ Đức Thận, KS. Nguyễn Văn Tài, KS. Trịnh Hoài
Linh, KS. Phạm Đình Biều...
CBGD Trường Mĩ thuật tham gia giảng dạy có các Hoạ sĩ Trần Văn Cẩn, Nguyễn
Đức Nùng, Lương Xuân Nhị, Vương Trình, Ngô Tôn Đệ, Trịnh Thiệp, Nhà Điêu
khắc Lê Công Thành...
Cán bộ giảng dạy các Bộ môn của Trường ĐHBK tham gia giảng dạy các môn cơ
bản và kĩ thuật cơ sở: Thái Thanh Sơn, Tô Xuân Dũng, Hoàng Văn Thân,
Nguyễn Bân, Lều Thọ Trình, Trương Hùng Thiên, Nguyễn Văn Yên,Nguyễn Kim
Luyện, Nguyễn Thái...
Mặc dù khoá đầu tiên tuyển chọn từ nhiều nguồn, trình độ không đồng đều,
nhưng được học tập trong môi trường Đại học Bách khoa, lại được
các giáo sư các nhà Hoạ sĩ, các Kiến trúc sư có trình độ và phương
pháp tốt, nên sinh viên tiếp thu nhanh, kết quả học tập vững chắc. Từ một
lớp bình thường (học kì l), đã trở thành lớp xuất sắc (học kì II),
rồi trở thành lớp tiên tiến của Trường Đại học Bách khoa (Học kì
III - IV). Vào đầu năm thứ hai, lớp 61K đã có một phòng triển lãm (nội bộ)
tranh vẽ trong hè, chất lượng khá tốt. Mỗi học kì có 1 - 2 sinh viên đạt
danh hiệu sinh viên ưu tú (có 75% môn thi và các đồ án kiến trúc
đạt điểm 5/5, còn lại đạt điểm 4/5; các môn kiểm tra đạt yêu cầu), 8 - 10
sinh viên đạt danh hiệu sinh viên tiên tiến (các môn thi và đồ án
kiến trúc đạt 4/5, các môn kiểm tra đạt yêu cầu). Năm thứ II, một số sinh
viên khá đã được tham gia cuộc thi quốc tế sáng tác tượng đài chiến
thắng Hi Rôn do Hội Kiến trúc sư quốc tế tổ chức.
Năm 1962 tuyển 100 sinh viên khoá II. Năm 1963 tuyển 30 sinh viên khoá
III.
Thời gian này Lớp Đào tạo kiến trúc sư có một chi bộ cán bộ
với 3 đảng viên, sinh hoạt tại Đảng bộ Bộ Kiến trúc. Hai chi bộ
sinh viên (khóa l,II) với 40 đảng viên, sinh hoạt tại Liên chi Khoa
Xây dựng Đảng bộ trường Đại học Bách khoa. Hai chi đoàn TNLĐVN thuộc
Đoàn TNLĐ Việt Nam Đại học Bách khoa.
lI.4. Lớp Đào tạo Kiến trúc sư chuyển về Phúc Xá,
Ba Đình Hà Nội.
Số lượng sinh viên Kiến trúc ngày một tăng, trong khi trang thiết bị học
tập cho sinh viên có tính đặc thù, nên chi phí học cụ, học phẩm cho sinh
viên kiến trúc tốn kém hơn các ngành khác. Để bảo đảm chất lượng đào tạo,
bên cạnh những yếu tố về nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo,
về đội ngũ cán bộ giảng dạy, Bộ Kiến trúc chủ trưng giải quyết tối ưu
về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cung cấp toàn bộ nhu cầu
học cụ, hoạ phẩm cho sinh viên. Lớp Đào tạo Kiến trúc sư cần có
một cơ sở đủ giảng đường, xưởng vẽ mĩ thuật, xưởng thiết kế, nhà ở nhà ăn
tập thể, sân bãi cho hoạt động ngoại khoá. Trong khi chờ xây dựng một khu
trường hoàn chỉnh (đã có qui hoạch đặt bên cạnh Viện Kĩ thuật Xây dựng tại
Nghĩa Đô), Bộ sắp xếp di chuyển Trường Văn hoá nghiệp vụ của Bộ
sang Gia Lâm, dành cơ sở Phúc Xá, lên khuôn viên 4ha, giao cho Lớp Đào
tạo Kiến trúc sư sử dụng.
Tháng 10.1963, sau khi thoả thuận với Bộ Giáo dục, Bộ kiến trúc có văn bản
số 1552/BKT ngày 16.10.1963, chuyển Lớp Đào tạo Kiến trúc sư từ
Trường Đại học Bách khoa về cơ sở thuộc Bãi Phúc Xá khu Ba Đình, Hà Nội.
Từ đây, Lớp Đào tạo Kiến trúc sư được mang tên là Lớp Đạí Học
Kíến trúc, là đơn vị cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ kiến trúc, hoạt
động độc lập, do Ban Lãnh đạo lớp điều hành.
KTS. Nguyễn Nghi
là cấp Phó Thủ trưởng, song thực tế Ông là người Lãnh đạo thường trực,
người đứng mũi chịu sào hàng ngày của đơn vị. Ông có nhiều công sức
tạo dựng và chèo lái Lớp Đại học Kiến trúc vững bước đi lên trong những
năm 1961 - 1967.
Ngay khi còn đương nhiệm Phó Chủ nhiệm công
ty Kiến trúc Việt Trì, òng đã được Bộ điều động tháp tùng KTS. Nguyễn
Cao Luyện đi khảo sát đào tạo Kiến trúc sư tại Trung Quốc. Khi về Bộ,
Ông được giao nghiên cứu chương trình, kế hoạch đào tao Kiến trúc sư theo
khung 3,5 năm. Ông được làm việc với GS.AM. Prikhốtcô, nghiên cứu
xây dựng lại kế hoạch đào tạo với khung thời gian 4,5 năm. Tiếp đó Ông lại
nghiên cứu xây dựng kế hoạch chất lượng cao với khung 5,5 năm, áp dụng từ
khoá IV trở về sau. Các bản kế hoạch này còn lưu lại, rất toàn diện, hợp
lí. Khi lên lớp hướng dẫn đồ án cho sinh viên, hoặc khi thảo luận chấm đồ
án trong nhóm giảng viên, Ông thường bảo vệ việc vận dụng phương châm
thiết kế hiện hành, những nguyên tắc về điều kiện tiểu khí hậu
và khuyến khích xu hướng dân tộc. Ông chuyên tâm công tác chuyên
môn, và đặc biệt say sưa với kiến trúc dân gian. Căn nhà !ám việc
và nhà ăn cán bộ tại Thuỵ Vân bằng tre trúc, mái lá cọ, với hàng
cửa sổ chấn song trúc, cánh cửa bằng tre đan,.. đẹp giản dị, thoáng mát,
do chính Ông chỉ đạo Tổ quản trị thực hiện.
Giờ đây, những cán bộ, sinh viên lớp Đại học
Kiến trúc thời đó hẳn không quên người Thủ trưởng giản dị nhưng rất nghiêm
túc trong bộ âu phục màu xanh chàm. Khi đi giải quyết công việc, dáng đi
vội vã, nét mặt suy tư, như không để phí một chút thời gian nào. Khi gặp
làm việc với cán bộ sinh viên, bao giờ Ông cũng đưa tay ra chào đón hoặc
đưa tiễn, và bắt tay trịnh trọng người khách của mình. Khi ở Phúc Xá cũng
như khi sơ tán lên Phú Thọ, anh em thấy Ông làm việc cả ngày, có khi cả
buổi tối, để xử lí hết công việc: nào lên lớp cho sinh viên, nào nghiên
cứu chương trình kế hoạch, rồi làm việc với cán bộ nhân viên trong đơn vị,
tiếp cán bộ các lớp, Ông thường lên Bộ làm việc hoặc đi họp xa với chiếc
xe đạp cũ kĩ. Thấy mấy Thày giáo trẻ đọc Thơ Đường, Ông tâm sự là
cũng từng thích thơ Đường, nay nhiều việc quá không còn thì giờ đọc. Ông
kể lại cho các bạn trẻ về sự tích bài thơ: "Tích niên kim nhật thử môn
trung/ nhân diện đào hoa tương ánh hồng/ nhân diện bất tri hà xứ khứ/ đào
hoa y cựu tiếu Đông phong''.
Ông là một trí thức trẻ tham gia kháng
chiến, là đảng viên lớp 6.1 (1958 - 1959), là đương kim Đại biểu Quốc
hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà khoá III (1960 -
1976). Ông nói chuyện rủ rỉ, chậm rãi. Trong sử lí công việc, òng tranh
thủ ý kiến tập thể lãnh đạo, ít tự quyết đoán, đôi lúc dè dặt với mọi
người. Ông ít kiên trì mạnh dạn bầy tỏ nhưng vấn đề liên quan đến bản
thân, dễ bị hiểu lầm. Trong công tác quản lí, Ông thực hiện nghiêm túc nội
qui qui chế, không nể nang xuê xoa trong những trường hợp sinh viên phải
lưu ban, thôi học.
Cơ sở tại phúc Xá có thể đảm bảo cho qui mô đào tạo 250 sinh viên hệ chính
qui, 100 sinh viên hệ chuyên tu, 100 sinh viên hệ tại chức (tính theo số
sinh viên có mặt tại trường). Bộ máy giúp việc cho Ban Lãnh đạo có Tổ Giáo
vụ và Tổ hành chính tổ chức.
Tổ Giáo vụ có KS. Nguyễn Đức Bân (Tổ
trưởng), CN Nguyễn Ngọc Thìn, Phan Thị Kiều Loan, Nguyễn Văn Toả, Nguyễn
Thị Đức Kiến.
Tổ Hành chính tổ chức có: Nguyễn Minh Lí
(Tổ trưởng), Nguyễn Văn Oanh, Hà Văn Ân, Nguyễn Thị Kim Cát, Nguyễn Thị
Tính, Nguyễn Khắc Tịnh, Hà Văn Can, Y tá Trần Văn Thiệu.
Trường có nhà ăn tập thể do Ông Nguyễn
Văn Tiệp làm quản lí. Một đội ngũ chị em cấp dưỡng do Trường Văn hoá
nghiệp vụ để lại gồm các chị Nguyễn Thị Liên, Nguyễn Thị Minh Vũ Thị
Nam, Nguyễn Thị Hồi, Nguyễn
Thị Sáu, Nguyễn Thị Thành, Nguyễn Thị Y...
Cán bộ giảng dạy từ 18 thày năm 1964, tăng lên 36 thày năm 1967. Bên cạnh
đó có đội ngũ dạy kiêm chức trên 15 người. Bước đầu có hai Bộ môn: Bộ
môn Văn hóa kĩ thuật và Bộ môn Kiến trúc.
Bộ môn Văn hóa kĩ thuật có:
KS. Lê Văn Nội, Tổ trưởng (1963-1966), dạy Sức bền vật liệu.
KS. Nguyễn Đức Bân, Tổ trường (1966 -1967), dạy Sức bền vật liệu.
CN. Hoàng Doanh, dạy Toán
KS. Dương Tiến Thọ, dạy Hình hoạ
KS. Nguyễn Văn Tợ, dạy Vật liệu xây dựng.
CN. Nguyễn Ngọc Thìn, dạy Cơ Lí thuyết
KS. Dương Văn Cánh, dạy Cơ học kết cấu.
KS. Nguyễn Khánh Hội, dạy Kết cấu công trình.
KS. Nguyễn Anh Châu, dạy Kĩ thuật thi công.
KS. Nguyễn Ngọc Thanh, dạy Tổ chức & kế hoạch xây dựng
CN. Nguyễn Huy Thanh, dạy Ngoại ngữ.
Đồng chí Lê Vân dạy Triết - Mĩ học Mác - Lê nin.
Đồng chí Lê Thức dạy Kinh tế chính trị và Lịch sử Đảng.
Bộ môn Kiến trúc gồm có:
KTS. Đàm Trung Phường, Tổ trường (1963-66) dạy nguyên lí và đồ án
qui hoạch đô thị.
KTS. Khổng Toán, Tổ trưởng (1966 - 1967) dạy nguyên lí và đồ án qui
hoạch đô thị.
KTS. Đoàn Văn Minh dạy nguyên lí và đồ án kiến trúc.
KTS. Đoàn Ngọ dạy cấu tạo và đồ án kiến trúc.
KTS. Nguyễn Nghi dạy đồ án kiến trúc.
KTS. Vũ Tam Lang dạy cơ sở kiến trúc và đồ án kiến trúc.
KTS. Huỳnh Lẫm dạy nguyên lí và đồ án kiến trúc.
KTS. Nguyễn Thế Bá dạy nguyên lí và đồ án qui hoạch đô thị
Hoạ sĩ Đặng Quí Khoa dạy môn Vẽ Mĩ thuật.
Cán bộ giảng dạy kiêm chức:
KTS. Hoàng Như Tiếp, KTS. Trần Hữu Tiềm, KTS. Hoàng Linh, TS.KTS. Vương
Quốc Mĩ, KTS. Dương Hi Chấn, KTS. Võ Thuộc, KTS. Nguyễn Trực Luyện, KTS.
Trịnh Nhưng, KTS. NguyễnKim, KTS. Trần Trọng Trí, KS. Vũ Đức Thận, KS.
Nguyễn Tại, KS. Trần Văn Mô, KS.Nguyễn Học Văn, KS. Phạm Đình Biều, KS.
Nguyễn Kí, ...
Về Đoàn thể, Lớp Đại học kiến trúc có một Liên chi bộ thuộc Đảng
bộ Bộ Kiến trúc. Đoàn Thanh niên LĐVN trực thuộc Đoàn TNLĐVN Bộ
Kiến trúc. Công đoàn cơ sở thuộc Công đoàn Bộ Kiến trúc. Ban
đầu (1963), Liên chi Đảng có 51 đảng viên, gồm 1 chi bộ cán bộ (8 đảng
viên) và 3 chi bộ sinh viên (43 đảng viên). Năm 1967, Liên chi đảng có 50
đảng viên, gồm 1 chi bộ cán bộ (24 đảng viên) và 4 chi bộ sinh viên (26
đảng viên).
Trong những năm này, Phó ban Lãnh đạo Lê
Hoàng Long được bầu làm Bí thư Liên chi Đảng (1963 - 1967).
Ông Nguyễn Minh Lí là Thư kí Công đoàn (1963 - 1966). Bí thư Đoàn
Thanh niên lao động Việt Nam là sinh viên khoá l Vũ Đức Đảm (1963 - 1965) và sinh viên khoá Il
Nguyễn Thế Quế (1965 - 1967).
Lớp học, xường vẽ, nhà làm việc, nhà ở, nhà ăn,...tuy là công trình cấp 4,
nhưng rộng rãi thoáng mát. Điều kiện sinh hoạt, học tập của sinh viên được
cải thiện nhiều. Mỗi lớp sinh viên có một xưởng đồ án riêng. Trong
xường, mỗi sinh viên có một bàn thiết kế với hộc bàn có khoá riêng.
Kèm theo, mỗi sinh viên có thêm 1-2 bảng vẽ to, 1-2 bảng vẽ nhỏ
(planchette)) đủ thước chữ T và một bộ ê ke. Giấy can, giấy in báo và giấy
vẽ dùng cho việc nghiên cứu sơ phác tìm ý, thể hiện đồ án, được cấp đủ cho
sinh viên theo từng bài tập đồ án. Không khí học tập nghiên cứu sáng tác
chuyển biến rất tốt. Sau giờ học lí thuyết, sinh viên luôn có mặt tại
xướng thiết kế, kết quả học tập tiến bộ nhanh.
Khi giao nhiệm vụ thiết kế, thày giáo chủ
trì kết hợp giảng nguyên lí thiết kế loại công trình tương ứng. Sinh
viên được tham quan công trình, và đọc sách xem tạp chí tại thư viện
trường để thu thập tư liệu liên quan. (sách chuyên đề, tạp chí kiến trúc
các nước Liên xô (cũ), Trung quốc, Đức, Rumani, Ba Lan, Tiệp, Bungari,
Pháp).
Thày giáo hướng dẫn
đồ án theo Tổ học tập. Mỗi tuần có 2 đến 3 buổi học đồ án (10 - 15 tiết).
Mỗi buổi, thày gặp từng sinh viên, kiểm tra, góp ý sửa chữa và vạch hướng
nghiên cứu tiếp, cho đến khi hoàn chỉnh đồ án.
Đồ án được thể hiện tập trung tại Xưởng,
giúp cho sinh viên học hỏi lẫn nhau từ nội dung đến phương pháp thể hiện.
Sinh viên thường góp ý phương án lẫn nhau, giúp sửa chữa mảng cây, chữ
viết. Tuyệt nhiên không có tình trạng làm giúp - vẽ hộ. Những đồ án
có nhiều bản vẽ, sinh viên thường phải làm cả ban đêm. Các đồ án chuyên
ngành, bên cạnh thày giáo kiến trúc, còn có các thày giáo kĩ
thuật như kết cấu, thi công, vật lí kiến trúc, điện nước, giao
thông... Các thày họp thống nhất nhiệm vụ, yêu cầu, và phương pháp hướng
dẫn.
Việc chấm đồ án là nhiệm vụ của Bộ môn. Đồ
án của sinh viên được treo trên xưởng để các thày trong Bộ môn xem
kĩ, chỉ ra những điểm tốt, điểm chưa tốt; rồi thảo luận, đánh giá, cho
điểm. Đôi khi có những cuộc tranh luận khá căng thẳng giữa các thày
giáo trong nhóm chấm bài. Khi trả bài, thày giáo phân tích từng
bài của sinh viên. Qua mỗi đồ án, sinh viên tiếp thu được một lượng kiến
thức mới, có tiến bộ vững chắc.
Khi tách ta khỏi Thường Đại học Bách khoa, chỉ có khoá l và khoá II (1961,
1962), gồm trên 200 sinh viên chuyển về bãi Phúc Xá. Khoá III 30 sinh viên
thuộc chỉ tiêu của Đại học Bách khoa nên được đào tạo tiếp tại khoa Xây
dựng. Năm học 1964, Lớp Đại học kiến trúc tuyển 25 sinh viên khóa
IV. Các năm sau: khoá V, khoá Vl, khoá VII, chỉ tiêu ổn định cho mỗi khoá
40 sinh viên. Việc thi tuyển theo qui chế chung của Bộ Giáo dục, với 4 môn
thi: Toán, Vật lí, Làm Văn, Vẽ Mĩ thuật.
Từ năm thứ ba sinh viên bắt đầu tập làm nghiên cứu khoa học. Các nhóm
nghiên cứu hình thành theo tổ học tập. Dưới sự hướng dẫn của các thày giáo
các nhóm đã thực hiện một số đề tài khoa học: chuyên đề về nhà trẻ, nhà
ăn tập thể, trường học, nhà ở nông thôn, ...
Việc nghiên cứu khoa học của sinh viên thời
kì đó mang tính chất tập dượt, xây dựng tư liệu phục vụ việc học tập. Mỗi
nhóm từ 3 - 5 sinh viên, có sinh viên khá giỏi trung bình, đề cương nghiên
cứu được Thày giáo thông qua. Mỗi tuần nhóm nghiên cứu có 1 - 2 lần đi
khảo sát thực tế một số công trình có ở nộị ngoại thành, vẽ ghi trao đổi
với người sử dụng về những ưu khuyết điểm của công trình. Nhóm cũng sưu
tầm các công trình trong các tạp chí kiến trúc, có ý kiến nhận xét chủ
quan của nhóm. Các mẫu khảo sát đều vẽ lại nghiêm chỉnh, từ 8 - 10 mẫu.
Mỗi chuyên đề phải làm một báo cáo tổng quan.
Kì hè năm 1964, theo đề xuất của KTS. Đoàn Văn Minh và yêu cầu của
Ty Văn hoá Hà Tây, một Đoàn công tác thực tế 20 sinh viên khoá l do
các Thày giáo Đàm Trung Phường, Vũ Tam Lang, Đặng Quí Khoa hướng
dẫn, về khu Thắng cảnh Hương Sơn làm công tác NCKH, thiết kế phục
vụ sản xuất.
Khi Thày trò đang hăng say lăn lộn thực địa, sơ phác qui hoạch, thiết kế
sơ bộ một số công trình, thì sảy đến vụ đánh phá đầu tiên của đế quốc Mĩ
vào vùng biển Quảng Ninh, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ
ra miền Bắc.
Sau 7 học kì với 12 đồ án, khoá l được phân ngành: kiến trúc dân dụng: 50
sinh viên, kiến trúc công nghiệp: 24 sinh viên, qui hoạch đô thị và nông
thôn: 24 sinh viên. Mỗi ngành thực hiện tiếp 2 đồ án chuyên ngành, học
thêm một số môn chuyên đề và làm đồ án tốt nghiệp.
Giữa học kì VIII, sinh viên ngành dân dụng đã được giao sớm đề tài tốt
nghiệp, để tranh thủ thời gian nghiên cứu lập nhiệm vụ thiết kế. Thời điểm
này (1965), Bộ Kiến trúc có nhiệm vụ thiết kế xây dựng một số công trình,
Trường đã chọn 10 sinh viên xuất sắc đến tham gia công tác thiết kế tại
Viện thiết kế dân dụng. Dưới sự hướng dẫn của các kiến trúc sư lâu năm,
anh em đã tham gia sơ phác công trình Triển lãm Giảng Võ, khách sạn Đồ
Sơn, khách sạn Bãi Cháy, khách sạn Tam Đảo và các biệt thự của Trung ương
ở Tam Đảo, Quảng Ninh...
Đế quốc Mĩ liều lĩnh đem máy bay đánh phá Miền Bắc. Tháng 5.1965, Trường
phải rời Hà Nội, sơ tán về xã Thuỵ Vân, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Đây là vùng nông thôn trung du, xóm làng xen lẫn rừng cọ đồi chè. Được sự
giúp đỡ hết lòng của Chính quyền và nhân dân địa phương, chỉ trong thời
gian ngắn, chúng ta dựng được hội trường, lớp học, nhà ăn, nhà bếp. Thư
viện thì mượn nhà dân. Những ngôi nhà gỗ 5 gian, 3 gian lợp lá cọ, có hàng
hiên rộng thoáng mát, được dân làng nhường cho Thày trò làm nơi học tập,
nghỉ ngơi.
Tại đây chúng ta đã tuyển sinh tiếp các khóa V (65 - 70), khoá Vl (66 -
71), Khoá VII (67 - 72). Mỗi khóa 40 sinh viên.
Đáp ứng nhu cầu cấp thiết về cán bộ thiết kế của Bộ, tháng 5.1965, sau khi
học xong chương trình khoá học, 50 sinh viên ngành kiến trúc dân dụng
khoá l được nhận công tác. Một năm sau, sinh viên được chọn một công trình
thiết kế thực tế mà sinh viên đã làm đề phát triển thành đồ án tốt nghiệp.
Cuối năm 1966, sinh viên nộp đồ án thực tế và bảo vệ tốt nghiệp.
Hai ngành Kiến trúc công nghiệp và Qui hoạch đô thị vẫn được
học tiếp các chuyên đề, làm đồ án chuyên ngành và bảo vệ đồ án tốt nghiệp
tại Trường nơi sơ tán xã Thuỵ Vân vào tháng 4.1966.
Lễ tốt nghiệp khoá I
có ý nghĩa to lớn. dù ở nơi sơ tán xa Thủ đô, nhưng được tổ chức khá trang
trọng, khách mời có Đại diện hai Bộ, đại biểu Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam
và địa phương. Trong lễ tốt nghiệp, Thứ trưởng Nguyễn Cao Luyện
thay mặt Bộ Kiến trúc và Ban Lãnh đạo Lớp Đại học kiến trúc đánh
giá kết quả học tập rèn luyện của sinh viên, cảm ơn các thày giáo, cán bộ
cán bộ nhân viên đã làm nên thành quả rất đáng tự hào. Một đội ngũ Kiến
trúc sư trẻ, đáng tin cậy, sản phẩm đầu tiên của Lớp Đại học Kiến
trúc. Nhắc lại chuyện Bác Hồ gặp và giao nhiệm vụ cho giới Kiến trúc, Ông
hồ hởi nói: Nay chúng ta vui mừng quá, quí quá, đã phần nào báo công
được với Bác.
Thay mặt Bộ Đại học và THCN, Thứ trưởng
Hoàng Xuân Tuỳ cũng phát biểu: ...''Nếu có người khách nước ngoài
nào đến thăm rừng cọ này thấy chúng ta đào tạo những Kiến trúc sư vẽ nên
những công trình cao đẹp, hiện đại để xây dựng đất nước ta trong tương
lai, họ không những sẽ ngạc nhiên và càng thấy rõ lòng tin tuyệt đối của
chúng ta vào thắng lợi hoàn toàn của nhân dân ta. Họ thấy rõ ý chí cao đẹp
của những chàng trai quyết tâm nắm lấy khoa học kĩ thuật để làm chủ công
cuộc xây dựng đất nuộc của mình sau này".
Những nhận xét đánh giá của các đại biểu thêm một lần khẳng định chất
lượng đào tạo của khoá l là tốt. Khi ra trường, anh chị em nhanh chóng kế
tục công việc sáng tác và quản lí chuyên môn của các bậc cha anh.
Trong số 107 sinh viên khoá 1, có 4 người
không học hết khoá, 6 người chuyển sang học tập và làm đồ án tốt nghiệp
với các khoá sau.
Khi ra trường có gần 60% được trực tiếp
hành nghề thiết kế, đều có công trình. Trong số này có một số Kiến
trúc sư xuất sắc như: Lương Anh Dũng, Hoàng Minh Phái, Nguyễn Vũ Hưng,
Tạ Xuân Vạn. Diêu Công Tuấn, Nguyễn Triệu, Tạ Trường Xuân, Lê Quang Hải,
Nguyễn Thế Khải, Nguyễn Xuân Thử, Đỗ Thế Sính,Trần Bảo Châu, Trần Ngọc
Lân, Nguyễn Đăng Kiểm, Nguyễn Đắc Nghinh, ....
Trong số 12 Kiến trúc sư làm công tác
giảng dạy đại học và ở Viện Nghiên cứu, có 6 Kiến trúc sư đạt học vị
Tiến sĩ: TS. Lê Quang Hải, TS. Nguyễn Bá Đang, TS. Nguyễn Hữu Tài, TS.
Vũ Duy Cừ, TS. Đỗ Thế Sính, TS. Tạ Trường Xuân. Có người được phong
hàm Phó Giáo sư và Nhà giáo ưu tú: NGƯT,PGS.TS. Nguyễn Bá Đang,
NGƯT. PGS.TS. Nguyễn Hữu Tài.
KTS. Nguyễn Ngọc Nhã
giữ nhiệm vụ Phó Hiệu trưởng một nhiệm kì (1976 - 1978). KTS.Vũ
Đức Đảm giữ nhiệm vụ Bí thư đảng ủy Trường 3 nhiệm kì (1988 -
1994), 7 Kiến trúc sư giữ nhiệm vụ Chánh Phó Giám đốc Sở Xây dựng (Trần
Ngọc Điều, Nguyễn Hoàng, Hoàng Văn Thịnh, Nguyễn Trảo, Nguyễn Văn Lộc,
Nguyễn Đình Châu, Nguyễn Xuân Đào).
12 Kiến trúc sư phụ trách cơ quan Thiết
kế Qui hoạch kiến trúc ở Trung
ương và địa phương (Nguyễn Ngọc Nhã, Nguyễn Thú, Lương Anh Dũng, Phạm
Hữu Chung, Vũ Đức Đảm, Nguyễn Đăng Kiểm, Phạm Văn Mộc, Nguyễn Văn Thanh,
Đặng Như Tất, Hoàng Văn Thịnh, Nguyễn Đắc Nghinh, Cao Kim Qui.)
Trong 2 năm 1965, 1966, Đội ngũ cán bộ giảng dạy và cán bộ nhân viên được
bổ sung thêm 30 người, đảm bảo chủ động tổ chức giảng dạy học tập tại nơi
sơ tán xa Thủ đô.
Về Kiến trúc có thêm 7 Kiến trúc sư tốt
nghiệp khoá l được giữ lại trường: Lê Quang Hải, Vũ Đức Đảm, Nguyễn Bá
Đang, Vũ Duy Cừ, Nguyễn Hữu Tài, Hoàng Văn Sâm, Vũ Khắc Vấn và 5 Kiến
trúc sư tốt nghiệp tại Liên Xô và Trung Quốc trở về: Nguyễn Kim Sến, Lê
Dũng Thức, Nguyễn Đăng Linh, Kiều Ngọc Đăng, Văn Thiên.
về Mĩ thuật có thêm HSĐK.Trần Tía, HS.Tô
Duy.
Về Kết cấu, có thêm KS. Nguyễn Văn Đô.
Về Chính trị có thêm KTS. Nguyễn Đức
Khoái.
Cán bộ nhân viên có thêm: Lê Minh Chúc,
Nguyễn Chính Xích, Phạm Văn Thuyết, Hoàng Văn Thúc, Đặng Đức Cường, Nguyễn
Thị Cận, Đỗ Gia Thịnh, Võ Đắc Thắng, Nguyễn Văn Điền, Nguyễn Thị Thủy.
Khoá II được tuyển từ 2 nguồn: Bộ kiến trúc tổ chức kì thi tuyển cán bộ
trong ngành, có 40 thí sinh trúng tuyển và thi tuyển năng khiếu trong sinh
viên khoá VII trường Đại học Bách khoa, chọn 60 sinh viên.
Số cán bộ trong
ngành trúng tuyền khoá II:
Nguyễn Văn Cát, Lữ Linh Châu, Trần Minh
Châu, Bùi Danh Dương, Nguyễn Thành Đức, Vũ Văn Đức, Phạm Tấn Đạt, Nguyễn
Quang Giao, Lê Thế Hách, Nguyễn Hiền, Lê Mạnh Hiền, Bùi Văn Hiệt, Hoàng
Hữu Hiệt, Trương Đình Hồng, Phan Hùng, Trần Ngọc Hùng, Đậu Xuân Huy,
Nguyễn Khắc Huy, Lê Hương, Nguyễn Xuân Hựu, Nguyễn Đức Khoái, Vũ Thái Lộc,
Hà Thế Luân, Phạm Phúc Lượng, Phạm Lưu, Trương Xuân Mai, Trần Đắc Ninh, Lê
Phát, Nguyễn Văn Phú, Đỗ Hữu Phụ, Võ Trọng Phượng, Nguyễn Thế Quế, Nguyễn
Hữu Quì, Nguyễn Phúc Thành, Nguyễn Văn Tiến, Lê Hải Trừng, Chu Kim Tuyến,
Nguyễn Đào Viên, Phạm Ngọc Xưởng, Nguyễn Bạch Yến...
Số sinh viên Đai
học Bách khoa trúng tuyển khoá II:
Trần Quốc An, Ngô Bách, Thân Văn Bạn,
Nguyễn Thiện Bảo, Vũ Quốc Bảo, Nguyễn Mạnh Chu, Nguyễn Đức Cường, Vũ Khắc
Đôn, Nguyễn Khắc Đạt, Trần Tiến Đạt, Nguyễn Văn Đính, Phạm Lê Đức, Bùi
Vinh Hạnh, Trần Hiển, Lê Đình Hiệp, Trần Gia Khiêm, Phan Trọng Khiêm,
Nguyễn Địch Long, Phạm Khắc Lộc, Ngô Thế Luân, Đặng Minh, Đoàn Thị Mỹ,
Phạm Vũ Mỹ, Đào Ngọc Nghiêm, Đỗ Văn Ngoã, Phạm Cao Nguyên, Đào Nguyễn,
Hoàng Minh Nhuận, Trần Thị Ninh, Nguyễn Huy Phách, Mạc Kính Phong, Vũ
Quang Phú, Nguyễn Thanh Phúc, Trần Phùng, Trần Ngọc Quang, Cao Sĩ Quế, Đàm
Văn Sức, Trần Văn Tam, Phan Minh Tâm, Vũ Minh Tân, Nguyễn Quốc Thái, Vũ
Trọng Thanh, Nguyễn Hữu Thành, Phạm Hữu Thăng, Hà Văn Thọ, Trần Xuân Toản,
Nguyễn Thế Truyền, Trịnh Đức Tuấn, Lê Vinh, Nguyễn Hồng Việt.
số sinh viên lớp
trên chuyển xuống:
Nguyễn Ngọc Đính, Nguyễn Thị Đông, Bùi
Minh Đức, Nguyễn Thúc Nhương, Trần Đông Rạng,
Lê Tử Kì
(từ trường ĐH kiến trúc Mascva chuyển về).
Khoá II có một số thuận lợi hơn khoá l. Trước hết là việc khai thác những
kinh nghiệm từ khoá l. Mặt khác, bên cạnh các thày giáo lâu năm, có bổ
sung một lực lượng thày giáo trẻ mới được tiếp cận với xu hướng kiến trúc
hiện đại có tư duy mới mẻ. Những yếu tố này tác động tốt đến học tập, rèn
luyện tài năng sáng tác của sinh viên. Thời gian khoá học cũng 4,5 năm.
Đầu học kì VIII khoá II được phân ngành tương tự khoá l: 50 sinh viên kiến
trúc dân dụng, 25 sinh viên kiến trúc công nghiệp, 25 sinh viên qui hoạch
đô thị và nông thôn.
Lễ tốt nghiệp của khoá II
cũng được tổ chức trang trọng và đông
khách dự. Đề tài tốt nghiệp là những công trình giả định. Nội dung đồ án,
phong cách thể hiện và mầu sắc dùng rất phong phú. Có Phòng trưng bầy đồ
án. Hội trưởng bảo vệ được trang trí hoa văn rực rỡ. Trước Hội trường có
cổng chào kết bằng lá cọ. Mừng thành công có mở tiệc ăn tươi nhờ kết quả
chăn nuôi của nhà bếp và sinh viên. Buổi tối kết thúc có liên hoan văn
nghệ ''cây nhà lá vườn" mừng các bạn tân khoa, rất vui. Thày Tạ
Mĩ Duật hứng khởi xướng lên một điệu ca trù. Thày Trần Hữu Tiềm
và ai đó đế thêm tiếng phách tiếng đàn miệng. Các thày đã có tuổi nhưng
không một ai câu nệ, cùng hát cùng vui. cùng đều nhởn nhơ cảm khoái. Phối
cùng nhau, tất cả âm hưởng đều được phát ra từ miệng. Kẻ tung người hứng,
kẻ xướng người hoạ, rôm rả.
Thật là:
...T...rách, tách tách..'', tiếng phách
rộn ràng gõ nhịp,
... ''Phưng, phừng, phưng tiếng đàn Đáy
khi nhấn, lúc dồn,
...''Tom, chát, tom'', tiếng trống chầu
đĩnh đạc điểm khổ, điểm câu.
|