|
Công nghệ chống ăn
ṃn các cấu kiện thép ở ngoài khơi Nhật Bản gần đây tiến bộ rơ
rệt. Đặc biệt công nghệ chống ăn ṃn mang tính vĩnh cửu được
sử dụng tích cực đối với kết cấu lớn. Sơn lót chống ăn ṃn cao
lặp lại theo chu ḱ được sử dụng cho kết cấu phần trên của các
cầu lớn trong khu vực khí hậu biển. Cọc ống thép, cọc ống ván
thép phủ lớp lót hữu cơ chống ăn ṃn nặng được sử dụng cho các
kết cấu cảng biển. Lớp vỏ bọc bằng Titan và các biện pháp
chống ăn ṃn khác với tuổi thọ 100 năm đang được tiếp tục sử
dụng cho các kết cấu phần dưới của các đường ngầm qua cảng
Tokyo. Chống ăn ṃn điện khí cũng được sử dụng cho các công
tŕnh dưới nước và dưới đáy biển. Đối phó với mỗi t́nh trạng
kết cấu thép bị ăn ṃn khác nhau, đều có các biện pháp hữu
hiệu để ngăn chặn. Vật liệu thép sử dụng trong các công tŕnh
tại vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu biển chịu sự ăn ṃn của
các phần tử muối trong không khí. Sơn là biện pháp thông dụng
nhất để ngăn ngừa ăn ṃn thép trong trường hợp này.
Những công tŕnh
thép bị ngập trong thủy triều hoặc bị nước biển bắn vào - là
môi trường biển khắt khe nhất cho ăn ṃn (0.3mm/năm) - người
ta sử dụng lớp sơn phủ chống ăn ṃn có hiệu suất cao với độ
bền dài hạn và lớp lót vô cơ. Sơn chống ăn ṃn có hiệu suất
cao của hệ sơn nhựa kẽm và than đá được sử dụng cho công nghệ
chống ăn ṃn những giếng khoan dầu, bệ, bến ng̣ai khơi và các
kết cấu hàng hải khác trong vùng có thủy triều và bị nước biển
bắn vào (tuổi thọ 20-30 năm). Vào những năm 1970-1980 nhiều
loại sơn lót phủ khác nhau đă được dùng thử như sơn chống ăn
ṃn nặng sử dụng nhựa tổng hợp clorua, epoxi, poliester, sơn
nhựa có mảnh thủy tinh hay lớp phủ cao su, FRP, xi măng, nhựa
tổng hợp, hợp kim đồng và niken hay các băng chống ăn ṃn.
Hiện nay sơn chống ăn ṃn có hiệu suất cao được sử dụng phù
hợp với tiêu chuẩn được thiết lập bởi Hiệp hội đóng tàu Nhật
bản, NACE và các tổ chức khác.
Các cầu tàu, neo đậu
thuyền, kè bảo vệ và các kết cấu khác trong bến cảng, gần đây
biện pháp chống ăn ṃn dài hạn đă được kết hợp trong khâu
thiết kế ban đầu. Kết quả là độ bền đă được duy tŕ trong phạm
vi toàn bộ chu ḱ tuổi thọ của kết cấu. Ngày nay các biện pháp
này đang thu hút sự quan tâm. Các sản phẩm chống ăn ṃn hiệu
quả cao đă được quảng bá từ giữa những năm 80. Gần đây các cọc
ống thép chống ăn ṃn hiệu suất cao đang được ứng dụng thử ở
nhiều nơi. Các nhà sản xuất đă sử dụng lớp màng polyethylene
hoặc polyuethane dày tối thiểu 2-2,5mm bao bọc các cọc ván
thép, cọc ống ván thép. Biện pháp này đă đạt được 50% hiệu
suất sử dụng trong các cấu kiện bến cảng. Trong vùng dưới nước
th́ những biện pháp này được sử dụng kết hợp với chống ăn ṃn
điện hóa, hoặc sử dụng độc lập.
Ngoài ra các biện
pháp chống ăn ṃn sử dụng lớp phủ kim loại cũng được sử dụng.
Biện pháp này c̣n có thể đảm bảo độ bền, do lớp phủ kim loại
chịu được va đập tốt hơn lớp phủ hữu cơ. Trong kết cấu phần
dưới: các trụ cầu của cầu dẫn qua cảng Tokyo, lớp phủ titanium
(1mmTi + 4mm thép tấm) đă được sử dụng như là biện pháp chống
ăn ṃn có hiệu suất cao trong những vùng có thủy triều và nước
biển bắn vào. Lớp phủ Titan được chế tạo bằng công nghệ phôi
cán nóng liên kết bản thép và bản Titan có hiệu suất cao. Khi
vật liệu Titan được sử dụng riêng rẽ trong môi trường biển th́
một lớp màng bám không mong muốn được h́nh thành trên bề mặt
tấm Titan thành lớp màng chống ăn ṃn. Và ăn ṃn lưỡng kim
xuất hiện giữa tấm Titan và thép trong nước biển được ngăn
ngừa bằng mối nối hàn chống ăn ṃn điện khí hóa. Khi lớp phủ
Titan được kết hợp sử dụng với sơn th́ mật độ chống ăn ṃn
hiện tại giảm và hi vọng độ bền là 100 năm.
Việc chống ăn ṃn
điện được sử dụng để ngăn ngừa ăn ṃn của các cấu kiện thép
trong nước biển, dưới đáy biển. Chống ăn ṃn điện khí có kiểu
cực dương lưu điện và kiểu nguồn điện bên ngoài. Mật độ ḍng
điện chống ăn ṃn trong nước biển đối với thép rỗng trong các
kết cấu cảng thông thường là 100 mA/m2. Có thể sử dụng giá trị
cao hơn 1 chút trong môi trường biển bị ô nhiễm hoặc có ḍng
chảy từ nước sông vào, hoặc có sóng lớn, tốc độ ḍng chảy lớn.
Mật độ điện lưu chống ăn ṃn của khối đá xây trong tường chắn,
kè chắn hay dưới đáy biển là 50% hoặc 20% của giá trị dưới
nước. Đôi khi giá trị nhỏ hơn được ước tính đối với các thành
phần ở sâu dưới đáy biển.
Takeshi Oki (Tập đoàn thép JFE)
Trung tâm Thông tin - Thư viện |