|
Iu. M. Kalantarov
Như chúng ta
đã biết, một trong những nguyên nhân làm cho các kết cấu của
nhà và công trình bị phá huỷ là nước. Đã có rất nhiều phương
pháp truyền thống chống ẩm, nhưng thực tế không mang lại hiệu
quả một cách hoàn hảo, tức là khí ẩm vẫn thấm vào tường, các
phòng ở tầng hầm và các bộ phận khác của nhà. Vấn đề này còn
gay cấn hơn đối với các ngôi nhà cũ có giá trị đặc biệt khi bị
đe doạ phá huỷ do tác động của khí ẩm.
 |
|
Hình 1: Sự phá huỷ lớp trát ngoài do khí ẩm xâm thực từ đất lên |
Khi lớp chống
thấm bị phá huỷ sẽ gây ra những hư hại cục bộ một cách tự
nhiên. Nước ở trong lòng đất thẩm thấu qua tường của bộ phận
nhà nằm sâu dưới mặt đất phá huỷ lớp vữa trát ngoài của vật
liệu bảo vệ và cả các khối xây bằng đá do hiện tượng mao dẫn
bên trong thấm ra bên ngoài của nhà (xem hình 1).
Sự tác động
thường xuyên của hơi ẩm lên các kết cấu gỗ (dầm, cột và các
kết cấu chịu lực khác) dần dần sẽ xuất hiện các mảng “nấm mốc
nhà” và chỉ sau một thời gian ngắn đã có thể phá hoại được các
kết cấu đó. Nấm mốc phát triển rất nhanh và xâm nhập vào bất
kỳ loại vật liệu xây dựng nào một cách dễ dàng.
Sự ẩm ướt
thường xuyên kết hợp với nhiệt ở các phòng tầng hầm và nửa
tầng hầm tạo điều kiện cho việc xuất hiện các mảng mốc màu
đen. Ở các ngôi nhà cũ thì việc khắc phục các hiện tượng này
sẽ rất phức tạp và tốn nhiều công sức.
Chúng ta
thường nhìn thấy trên tường của các công trình cũ và cả mới
những vết lốm đốm màu trắng – đó là các loại muối có hại như
nhóm Clorua, Sulfat và Nitrat. Các muối này có đặc tính rất
đặc biệt là chúng có thể hút ẩm ngay cả trong không khí, tích
tụ rồi lại nhả hơi ẩm ra. Khi quá trình này được lặp đi lặp
lại nhiều lần sẽ tạo ra các muối có dạng tinh thể. Sự liên kết
các tinh thể của muối mới với các tinh thể của muối đã có sẽ
dẫn đến việc phá huỷ các vật liệu của tường, tức là làm cho
lớp trát tường bị bong tróc, lớp vữa xây tơi bở, gạch và các
loại vật liệu làm tường khác cũng đều bị phá huỷ.
Thông thường
thì mọi vật liệu xây dựng đều có các mao quản với đường kính
từ 20-40 Micromet và nước sẽ thẩm thấu qua các mao quản này.
Để lấp kín mạng mao quản trong các khối xây bằng gạch, người
ta thường sử dụng loại bitum đặc biệt và vữa chống thấm. Song,
cùng với thời gian, trong các công trình đã xây dựng lâu ngày,
lớp chống mao dẫn cũng mất dần tính chất và công dụng của nó.
Ngày nay, khi
sửa chữa, tôn tạo các công trình cũ để ngăn ngừa khí ẩm từ đất
lên theo các mao quản ở trong tường, người ta đặt các tấm chắn
bằng kim loại cứng hoặc khoan các lỗ. Các lỗ này có đường kính
30mm được khoan chếch 30 độ cách nhau 15cm dọc theo bề mặt của
tường trên một cốt nhất định và có độ sâu bằng chiều dày của
tường trừ đi 8cm. Sau đó, các lỗ được lấp dưới một áp lực bằng
loại dung dịch đặc biệt cho đến khi các mao dẫn bão hoà.
Thường thường thì quá trình này cần được thực hiện ít nhất là
3 lần. Sau khi các lỗ đã lấp đầy dung dịch cần được lau sạch.
Dung dịch sẽ biến vữa xây trong tường thành hợp chất silic
không hoà tan và lắng đọng trong các mao quản làm cho chúng
hẹp lại hoặc bị lấp đầy hoàn toàn. Như vậy là lớp chắn mao dẫn
sẽ trở thành lớp chống thấm và khí ẩm không còn khả năng thẩm
thấu lên trên.
Việc xây dựng
các màn chắn kiểu như vậy có thể được thực hiện theo một số
phương án như sau:
-
Màn chắn có thể xây dựng ở bên ngoài nhà cao hơn mặt đất để
ngăn chặn khí ẩm từ đất lên. Việc làm cho khối xây nằm dưới
màn chắn luôn khô ráo là khó có thể đảm bảo được, nên trong
trường hợp này thì mặt trong của tường và phần chân tường nhô
ra ngoài cần được gia cố bằng loại vữa đặc biệt (xem hình 2a).
-
Màn chắn có thể bố trí ở chân tường phía bên trong của các
phòng tầng hầm cùng với lớp chống thấm ở phía ngoài, như vậy
bề mặt của tường luôn giữ được khô nếu lớp chống thấm bên
ngoài không bị phá huỷ hoặc khi cần có thể sửa chữa lại. Trong
trường hợp này nước ngầm cần được dẫn về một hệ thống tiêu
nước thường xuyên (xem hình 2b).
-
Màn chắn có thể bố trí ở phía ngoài cùng với lớp chống thấm ở
phía trong, trong điều kiện có sự tác động của nước dưới một
áp lực nào đó (xem hình 2c).
-
Màn chắn có thể bố trí trên mặt thoáng của nước đối với trường
hợp có nước ngầm và nước đọng thường xuyên. Trên bề mặt của
tường cần phủ một lớp chống thấm đàn hồi bên trong và để tránh
hiện tượngg ngưng tụ của hơi nước cần phải trát một lớp vữa
đặc biệt bên ngoài.
-
Khi tường của tầng hầm là các khối xây kép, tức là độ dày của
tường từ 1m trở lên thì màn chắc cần được bố trí cả bên trong
và bên ngoài của nhà (xem hình 2d).
-
Khi sửa chữa các tường dày thì việc xây dựng các màn chắn sẽ
không kinh tế. Trong trường hợp này nên sửa chữa các lớp trát
tường bên trong và bên ngoài nhà (xem hình 3).
-
Khi sửa chữa và phục hồi các ngôi nhà cũ và điều kiện thực tế
không cho phép giải phóng các mảng tường lớn khỏi các hạt muối
có hại thì áp dụng phương pháp đặc biệt để làm vệ sinh lớp
trát tường, cụ thể là trên bề mặt của tường gạch đã được làm
sạch khỏi vữa trát và sơn, người ta dùng một loại hoá dược đặc
biệt phun xịt lên để biến đổi các muối clorit và sunphát bám
trên bề mặt thành muối không hoà tan. Sau khi hoá dược đông
cứng và những chỗ trong khối xây bị muối phá huỷ nặng người ta
tiến hành trát lớp vữa mới có thêm phụ gia đặc biệt.
|
 |
|
Hình 2: Các thí dụ về bố trí màn chắn |
|
a. Phía ngoài, trên mặt đất b. Phía trong của phòng tầng hầm
c. Phía ngoài cùng với lớp chống thấm bên trong
d. Cả phía ngoài và trong của nhà khi tường của tầng hầm
được xây kép |
Trước khi tiến
hành sửa chữa nhà và công trình một cách có chất lượng thì
đương nhiên là phải thực hiện việc phân tích các hư hại một
cách tỷ mỉ. Các kết quả phân tích phải thể hiện được các số
liệu về hiện trạng kỹ thuật của nhà và công trình, vị trí của
chúng, mực nước ngầm, trạng thái sử dụngg nhà ban đầu và sau
này cũng như các yếu tố khác nữa. Trạng thái kỹ thuật của nhà
phải được phân tích ở phòng thí nghiệm như: Lấy mẫu gạch-vữa
xây, vữa trát và từ các vật liệu xây dựng khác để xác định hàm
lượng phần trăm của muối, độ ẩm, các mao quản…Việc phân tích
cho phép đề ra các giải pháp cụ thể để tiến hành công tác sửa
chữa, phục hồi sau này một cách đồng bộ cũng như xác định được
nơi nào thì cần phải xây dựng màn chắn, nơi nào cần phải áp
dụng các biện pháp khác để chống khí ẩm xâm nhập vào các kết
cấu của nhà…
 |
|
Hình 3: Sử dụng lớp trát cả 2 phía trong và ngoài của tường nhà. |
Hãng
“Schomburg” của Đức rất giàu kinh nghiệm trong công tác sửa
chữa, tôn tạo các công trình cũ và trong công tác chống thấm
cho các công trình xây dựng mới với nhiều công năng khác nhau.
“Schomburg” đã có tới hơn 50 hoạt động hiệu quả ở nhiều nước
trên thế giới. Công việc cụ thể của họ là sửa chữa các công
trình cũ mang tính lịch sử, tôn tạo các tổ hợp mặt đứng, hoàn
thiện tường và tầng hầm, sửa chữa các kết cấu bê tông, chống
thấm cho phần ngầm dưới đất của nhà cao tầng, tunel, chống
thấm cho bể bơi và các phòng chức năng xung quanh, các bể chứa
nước ăn, bể chứa hoá chất, dầu mỏ, xây dựng và chống thấm cho
các sàn có diện tích lớn và nhiều công việc khác…
Trong xây
dựng, hãng “Schomburg” đã sử dụng một số loại vật liệu có hiệu
quả cao như: “Akvagin – 2K” là loại hợp chất xi măng chống
thấm đàn hồi được sử dụng để ngăn nước ngầm với áp lực của cột
nước cao đến 70m để chống thấm cho các công trình ngầm và các
công trình trên mặt đất cũng như trong xây dựng kỹ thuật thuỷ
công. Loại vữa trát chuyên dụng “Tecmopal – CP22” có khả năng
thoát nước cao và chống được muối ngậm nước được sử dụng để
sửa chữa và làm mới các bề mặt tường bị ẩm của tầng hầm và các
mặt đứng của nhà. Sơn silicat “Adicor – CK” sử dụng để sơn lớp
bên ngoài các bề mặt tường gạch sau khi đã được sửa chữa theo
phương pháp “Tecmopal”.
Ngày nay có
rất nhiều loại vật liệu ở trong nước và nước ngoài cũng như
các phương pháp cho phép khắc phục được những tác động có hại
đến kết cấu của nhà và công trình kỹ thuật.
Tạp chí “Xây dựng nhà ở” nước Nga, số 11.2001
Người dịch: Quách Khắc Khiêm
Trung tâm Thông tin – Thư viện |