|
Antonio Canova sinh
tại làng Possagno và theo học tại Venice và Rome. Ông trở
thành nhà điêu khắc tân-cổ điển hàng đầu và được các nhà bảo
trợ như Pius VII và Napoleon đánh giá là nhân tài bậc nhất
thời đại. Tác phẩm của Canova hướng theo những nguyên tắc
của Winckelmann và tác phẩm Perseus của ông được đánh giá là
một kiệt tác mô phỏng cái không thể mô phỏng được. Ông tin
tưởng rằng việc sao chép tác phẩm của các nghệ sỹ cổ đại một
cách nô lệ sẽ bóp nghẹt và làm đông cứng tài năng, khi đối
chiếu những tác phẩm nghệ thuật lớn với mục đích nghiên cứu,
so sánh nó với thiên nhiên để hiểu rõ những giá trị của nó,
điều đó có nghĩa là sử dụng nó để sáng tạo ra một tổng thể
có thể phục vụ cho việc xác định hình thức biểu hiện chính
xác của đối tượng lựa chọn . Quan điểm của ông được minh
chứng rõ ràng bằng hành động từ chối phục hồi bức tượng
Elgin Marbles từ Parthenon. Đối với ông, chạm tay vào tuyệt
tác này đã là một hành động báng bổ.
Cho tới khi qua đời
năm 1822, ông đã có ảnh hưởng rất lớn ở Rome đầu tiên với tư
cách là một Thanh tra viên, sau đó là Chủ tịch viện hàn lâm
Accademia di San Luca. Canova tiếp nhận các báo cáo về bảo
tồn và khai quật và ông can thiệp trực tiếp khi cần thiết.
Canova và Fea đã có những ảnh hưởng tích cực đối với các
quan điểm bảo tồn cả trên phương diện pháp quy và triển khai
thực tiễn, thể hiện cụ thể là bảo tồn tối thiểu công trình
kỷ niệm (monument). Thí dụ như trong trường hợp Colosseum,
mục tiêu chủ yếu không phải là phục hồi mà là bảo tồn tất cả
các chi tiết trích đoạn cổ đại như là những thành phần của
một công trình kỷ niệm lịch sử đích thực.
 |
|
Colosseum, Rome. Một đề xuất
gia cố cánh phía Đông của công trình bằng cách tháo dỡ
phần hư hỏng và xây bịt các vòm cuốn vào năm 1806. |
|
Gia cố cánh phía Đông của
Colosseum (1806) do R.Stern tiến hành. Ông rất chú ý
việc bảo toàn nguyên trạng các cấu trúc cổ điển. |
Hoạt động khai quật
diễn ra phổ biến trên toàn bộ lãnh thổ Rome trong nhiều thế
kỷ, nhiều người nước ngoài, như các học giả người Anh cũng
tham gia khám phá tại các công trình kỷ niệm khác nhau, thí
dụ như công trình Domus Aurea (Salmon, 1995). Những phát
hiện ở Herculaneum và Pompeii đã đem đến nguồn cảm hứng, vào
năm 1788, các cuộc khai quật của Nam tước Von Fredenheim tại
Rome lại tiếp thêm những tác nhân kích thích mới. Vào năm
1801, các cuộc khai quật lại được bắt đầu tại Ostia nhưng
sau đó do có dịch sốt rét, vào năm 1802 phải chuyển tới
Rome. Nói chung, các cuộc khai quật không mở rộng phạm vi mà
chỉ tập trung vào một số công trình hoặc khu vực như Cổng
vòm Septimius Severus, Colosseum, các nhà tắm Titus và
Pantheon. Công nhân khai quật ở đây vốn là những người bị
kết án, sống trong lều ngay tại hiện trường suốt ngày đêm.
Do vẫn cho rằng đất nền chính là nguồn bốc hơi độc gây ra
sốt rét, người ta lựa chọn những mùa thích hợp để tránh mưa
rào hoặc ánh nắng gay gắt mùa hè làm đất nền khô cứng. Vấn
đề cần quan tâm đầu tiên là thoát nước, sau đó là các vấn đề
liên quan tới quyền sở hữu đất và nhu cầu tháo dỡ các công
trình trên hiện trường cũng như dọn dẹp gạch vụn.
Cổng vòm Septimus
Severus được khai quật cho tới cốt nền nguyên bản. Sau đó di
tích được xây bao quanh bằng tường chắn đất có bậc thang cho
khách tham quan xuống phía dưới. Toàn bộ công trình được
hoàn thành vào năm 1803 và được gắn kỷ niệm chương. Vào năm
1805, công trình Cổng vòm Constantine cũng được xây tường
chắn đất tương tự vòng quanh. Camporesi rất thán phục biện
pháp xử lý của Canova:
"Anh sẽ cảm thấy với toàn bộ nhiệt
huyết, sự trân trọng và niềm ngưỡng mộ di tích này, anh cảm
thấy cần phải hết sức chú trọng sao cho di tích không bao
giờ bị hư hại dù chỉ là một vết rạn nhỏ". Công việc triển
khai ở đây chỉ quy về một số khía cạnh thiết yếu nhất như
gia cố cột đá cẩm thạch bằng đai sắt, ngoài ra chỉ là các
công việc bảo dưỡng nhỏ.
Một trong những công
trình kỷ niệm chủ yếu cần sửa chữa là Colosseum - Nhà biểu
diễn có bậc dốc lớn nhất trong Đế quốc La Mã. Bắt đầu xây
dựng từ thời Vespasian và hoàn thành năm 80 vào thời Titus,
công trình bằng gạch và đá túyp vôi này có hình dạng gần
giống như hình elíp với kích thước hai trục là 188 và 156m
và chiều cao gần 50m với 70000 chỗ ngồi. Colosseum được
trang trí bằng các thức kiến trúc chồng lấp lên nhau và là
khuôn mẫu tiêu biểu cho các kiến trúc sư La Mã và Phục Hưng.
Những cấu trúc chính xác của công trình cho phép tiến hành
các cuộc trình diễn phức tạp với hiệu quả đặc biệt rất được
người La Mã ưa chuộng. Dù rằng bị hư hại rất nhiều, công
trình này đã trở thành biểu tượng của La Mã và là nguồn cảm
hứng cho Venerable Bede (673-735) khi ông viết những
câu thơ sau
đây:
Rome vững vàng khi Colosseum đứng đó,
Rome sụp đổ khi Colosseum sụp đổ,
Và khi Rome sụp đổ, cả thế giới sụp đổ theo.
Colosseum từng được
sử dụng làm nơi trú đêm cho những người đánh xe ngựa, làm
kho chứa cho một nhà máy sản xuất thuốc súng và công trình
ngập trong phân và rác thải. Lối sử dụng này làm hư hại
nghiêm trọng cấu trúc bằng đá của công trình, các hành lang
bị bịt kín khiến khách tham quan không thể vào bên trong.
Một trận động đất xảy ra vào đầu thế kỷ Mười tám đã làm một
phần cấu trúc đổ sụp, một trận động đất khác vào đầu thế kỷ
Mười chín tiếp tục làm hư hại công trình, đặc biệt là cạnh
phía Nam của vòng ngoài. Những vấn đề này đã được chỉ rõ
trong văn bản ghi nhớ do Fea, Camporesi và Tommaso Zappati
soạn thảo vào tháng Sáu năm 1804. Họ lo ngại rằng những hư
hại này có thể trở nên kịch tính và kiến nghị cấu trúc cần
phải được dỡ bỏ những tải trọng ngoại lai, các đống gạch vỡ
cần được thu dọn để các vòm cuốn không bị quá tải. Một tuần
sau đó, lâu đài Quirinale đã chuyển cho
Chưởng khố lệnh
thu dọn các đống gạch vụn tại Colosseum. Vào năm 1805, người
ta đã xây dựng một hệ thống cột chống bằng gỗ để gia cố phần
tường phía Nam bị hư hỏng, công tác khai quật cũng được bắt
đầu và người ta vạch tiếp những kế hoạch gia cố công trình.
Sau một trận động
đất khác, Stern lại tiến hành thanh tra công trình và báo
cáo là những khối đá tuýp vôi bị tách rời là do những vết
nứt dọc ở tầng hai và ba. Điều này làm cho chân của hai vòm
ngoài choãi ra và những viên đá khoá vòm hình nêm chuyển vị
đáng kể. Hậu quả tiếp theo là cấu trúc bị lệch theo trục dọc
tối thiểu là ba palmi và cột trụ cuối cùng xuất hiện những
vết nứt đáng kể và ngày càng mở rộng. Ông kiến nghị xây dựng
một bức tường chống bằng gạch với phần móng bằng đá tuýp vôi
để chặn đứng chuyển vị ngang, hình thành trụ chống vững chắc
có tính khả thi vì mặt kinh tế đồng thời tôn trọng những giá
trị lịch sử và kiến trúc của công trình kỷ niệm này. Theo
như lời của Stein thì mục tiêu ở đây là sửa chửa và bảo tồn
mọi thứ - dù chỉ là những trích đoạn nhỏ bé nhất . Tuy vậy
cũng có những nhà phê bình than phiền rằng những trụ chống
khổng lồ có thể huỷ hoại những giá trị sinh động của di tích
tuyệt vời này, sự can thiệp không có bản sắc, hơn nữa sự gia
tải có thể dẫn đến những sự cố về kỹ thuật.
Một kiến nghị ngược
lại là phần công trình nguy hiểm có thể tái tạo thành một
dạng trụ chống bằng cách phá bỏ phần bên trên thành một
đường dốc và xây lấp một số vòm cuốn. Điều này dẫn tới việc
phá bỏ một phần của một vòm cuốn ở tầng 1, phá bỏ nguyên một
vòm cuốn ở tầng 2 và hai nhịp ở tầng trên cùng. Người ta lý
luận rằng phương thức can thiệp này có thể có kết quả là tạo
lập một hình ảnh di tích tự nhiên và có giá trị như là một
khởi điểm đơn giản để xây dựng lại Colosseum nếu như có nhu
cầu trong tương lai. Các kiến trúc sư trong Hội đồng phục
hồi là Palazzi, Camporesi và Stern kịch liệt phản đối khuyến
nghị này, họ cho rằng thái độ vô liêm sỉ đối với hiện tại,
một ý đố báng bổ tương tự đối với Hoàng đế tối thượng như
thế chưa hề có, thậm chí cả đối với bọn phá hoại và những kẻ
man rợ; hiện tại, dù rằng những kế hoạch bảo tồn đã được
soạn thảo, hành vi phá hoại cũng chưa hề được chính quyền
cho phép và cấp kinh phí. Hội đồng kết luận rằng nếu theo
những khuyến nghị của họ thì có thể tiết kiệm một nửa số
kinh phí và có thể bảo tồn tính tổng thể của công trình. Đó
là những công trình mà toàn thế giới đến để ngưỡng mộ và
thèm muốn. Tất nhiên, một điều rõ ràng là nếu như kế hoạch
phá hoại đó được thông qua thì thà rằng cứ để các phần công
trình bị hư hỏng trong trạng thái phế tích tự nhiên như thế
còn hơn là can thiệp vào. Trong trường hợp đó, chúng ta có
thể bị cho là không có đủ phương tiện tài chính để bảo tồn,
điều đó còn tốt hơn bị buộc là những kẻ phá hoại và man rợ.
Vào tháng Mười một năm 1806, Rome phải chịu đựng thêm một
trận động đất nữa và thậm chí nếu như giàn giáo gỗ đã cứu
cho công trình khỏi sập đổ thì Colosseum vẫn bị nghiêng thêm
nhiều, những thanh chống bằng gỗ bị uốn cong đến mức tới
hạn. Đồ án của Palazzi, Camporesi và Stern lập tức được chấp
nhận và thợ cả Antonio Valenti được giao triển khai công
việc. Việc đầu tiên là tạo các trụ chống đỡ cho công trình
chống lại lực xô của các bộ phận bị rời ra, thứ hai là xây
bịt các vòm cuốn để gia cố từ bên trong, thứ ba là cần phải
xây dựng một bức tường ngang để gia cường theo phương ngang
và liên kết các bức tường chống, trụ và các vòm cuốn xây bịt
vào cấu trúc bên trong công trình. Công việc được triển khai
nhanh chóng và cho đến ngày 6 tháng Sáu năm 1807 thì gần như
hoàn thiện. Những đống đất xung quanh công trình được dọn đi
và một vài vựa cỏ khô che lấp công trình bị phá bỏ.
 |
|
 |
|
Cánh phía Tây của Colosseum
được G. Valadier phục hồi vào năm 1824-1826. Một phần
mục tiêu của ông là phục dựng các hình thức kiến trúc.
Việc sử dụng gạch thay cho đá xuất phát từ lý do kinh
phí. |
|
Trong
việc phục hồi cánh phía Nam của Colosseum vào khỏang
giữa thế kỷ Mười chín, L.Canina xây dựng các phần mới
bằng gạch để có thể phân biệt với cấu trúc nguyên bản
bằng đá |
Giáo hoàng rất tự
hào với đồ án này vì đã cứu cho một công trình kỷ niệm cổ
đại tuyệt vời khỏi sụp đổ, công trình xây dựng những bức
tường chống được coi là một trong những đồ án quan trọng
nhất thập kỷ của Giáo hội Rome. Khung cảnh này đã được mô tả
trong một bức tranh của Galleria Clementina tại Vatican và
khắc vào một tấm đá cẩm thạch gắn trên các tường chống để
công bố theo phương thức truyền thống đóng góp của Giáo
hoàng trong việc bảo tồn công trình cổ đại này. Stern đã mô
tả can thiệp của Chưởng khố Giáo hoàng như sau:
...Và trong khi công
trình cổ đại hoành tráng nhất, lớn nhất mà chúng ta biết đến
làm chúng ta tin tưởng vào sự tráng lệ và kiến thức của
những thế kỷ đó, công việc bảo tồn hiện đại trong hoàn cảnh
hiện nay là minh chứng rõ ràng và không thể thay đổi về sự
tôn trọng và sùng kính của chúng ta đối với những di tích
nghệ thuật tuyệt vời. Công việc thành công này đã làm chúng
ta gần hơn với tổ tiên và sẽ chỉ ra cho hậu thế rằng việc
những tác phẩm nghệ thuật hiện bị thiếu hụt trong kỷ nguyên
của chúng ta có lý do duy nhất là chúng ta không có đủ
phương tiện để khai quật.
Trên thực tế, công
cuộc có quy mô lớn đầu tiên từ thế kỷ 19 này với mục tiêu có
ý thức là bảo tồn từng trích đoạn công trình đã mở đường cho
những sự can thiệp trong tương lai và cho sự phát triển của
lý luận bảo tồn hiện đại.
Trong thời kỳ Pháp
đô hộ, một phần khu vực đấu trường của Colosseum đã được
khai quật nhưng sau năm 1814, khu vực đã khai quật lại bị
lấp đầy lại do không sử lý được vấn đề thoát nước. Bên ngoài
công trình, công việc vẫn tiếp tục với dự định hình thành
một đường dạo vòng quanh bằng hàng cây và xây dựng tường
chắn gia cố sườn đồi. Người ta dỡ bỏ những công trình xây
dựng về sau bám vào những vòm cuốn ở tầng trệt và tiến hành
khai quật để khám phá mặt bằng lối vào chính. Sau đó, vì lý
do an ninh, người ta lại phải đóng kín các vòm cuốn bằng
hàng rào gỗ sơn màu đồng. Những biện pháp đó vẫn tỏ ra không
đủ để ngăn cản dòng người tham quan theo gương của Goethe
chiêm ngưỡng những di tích lãng mạn này dưới ánh trăng. Cây
cối mọc xanh rì là một trong những khía cạnh lôi cuốn ý
tưởng lãng mạn khi chung thay đổi theo thời gian trên những
bậc đá mọc đầy cây oliu, mía, sung hoang dại với những con
đường mòn nhỏ uốn lượn quanh các bậc thang bỏ hoang và những
gallery vô tận, như lời Shelley mô tả trong một bức thư gửi
Thomas Love Peacock vào năm 1818. Vào năm 1815, Fea đã đề
xuất việc đào bỏ các gốc cây và gia cố cấu trúc công trình
bằng đai sắt. Tiếp theo là những đề xuất loại bỏ cây cối
triệt để hơn vào năm 1820, việc này ba mươi năm sau - năm
1850 mới được thực hiện. Đề xuất này cũng làm dấy lên ý kiến
chỉ trích do người ta nghĩ tới giá trị của những cảnh quan
lãng mạn tại di tích.
Vào năm 1820, cạnh
ngoài của Colosseum về phía Forum tỏ ra mất cân bằng và
Valadier được chỉ đạo xây dựng hàng trụ gỗ để chống đỡ. Hệ
thống gia cường này được duy trì trong ba năm cho đến khi
công tác gia cố chính thức được triển khai. Đồ án của
Valadier xoay quanh việc xây dựng lại một phần trong số các
bộ phận bị đổ nát của công trình để hình thành nên tường
chống.
Nên mô phỏng kiến
trúc cổ đại thậm chí trong các chi tiết nhỏ ngoại trừ việc
trong khi tất cả các bộ phận của công trình nguyên bản được
chế tạo bằng đá túyp vôi thì vì lý do kinh phí, các bộ phận
công trình làm mới chỉ có một phần bằng đá travertine, đó là
bổ trụ tầng một, đế các vòm cuốn, chân cột, đầu cột và gờ
mái đua. Điều này là cần thiết vì lý do ổn định của công
trình. Tất cả các bộ phận còn lại xây bằng gạch có mô phỏng
kỹ lưỡng những đường gờ cổ nhưng có phủ ngoài một lớp fresco
để trông giống như chế tạo tòan bộ bằng đá
túyp vôi.
Không phải ai cũng
đồng tình với đề xuất này (thí dụ như Carlo Fea) nhưng cuối
cũng đồ án vẫn được Viện hàn lâm chấp nhận vào tháng Mười
hai năm 1823. Công việc được tiến hành ngay sau đó và hoàn
thành vào năm 1826. Valadier lý luận rằng phương pháp này có
thể làm đơn giản hóa những phần việc tiếp theo và nếu muốn
thì có thể xây dựng lại toàn bộ Colosseum. Công việc phục
hồi tiếp theo được tiến hành vào những năm 1840 và 1850 dưới
sự chỉ đạo của Luigi Canina (1795-1856) - một kiến trúc sư
tân cổ điển đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực khảo cổ, đã xuất
bản hàng loạt sách về kiến trúc Rome cổ đại. Can thiệp lớn
nhất của ông tại công trình này là xây dựng lại tám vòm cuốn
ở phần phía Nam vào năm 1844 và lối vào phía Tây đối diện
với Forum vào năm 1852. Trong cả hai trường hợp, các bộ phận
mới được xây bằng gạch màu vàng, đá túyp vôi chỉ được sử
dụng ở một vài điểm quan trọng trong cấu trúc công trình.
Phần tường xây tiếp tục có bề mặt nhám theo phương thức của
Valadier trước đây nhưng không phủ fresco. Một phần cấu trúc
có diện tích nhỏ cũng được xây lại bằng đá túyp vôi trên lối
vào phía Bắc vào năm 1852.
|