|
Vào tháng 6
năm 1973, khi các đơn vị kỹ thuật của quân đội Ai Cập vượt
kênh đào Suez và xâm lược sa mạc Sinai, họ đă bắt đầu thời kỳ
hậu - Hiện Đại. Trong một gia đọan phát triển đầy những sự
kiện gắn liền với việc giá dầu lửa vùng Arab tăng 5 lần và sự
thiếu nhiên liệu ở Mỹ, ... đă gây ra khủng hoảng kinh tế làm
đảo ngược những nền kinh tế mạnh của Thế Giới Phương Tây. Và
gắn liền với nó là việc cắt giảm chi tiêu của chính phủ vào
kiến trúc mang tính xă hội đang được duy tŕ trong quăng thời
gian gần 30 trước đó.
Bị cắt những những
nguồn tài chính từ nhà nước, trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX,
Kiến Trúc Hiện Đại trở nên mất tiếng nói và đối mặt với tương
lai không rơ ràng. Mặc dù nổi lên từ Chiến Tranh Thế Giới Thứ
2 như là biểu tượng duy nhất của qui hoạch, phúc lợi xă hội và
nền dân chủ, và với sự cần thiết trong việc xây dựng lại những
thành phố bị tàn phá, Kiến Trúc Hiện Đại đă không thể tồn tại
mà không có nguồn vốn xuất phát từ những ủng hộ tư tưởng xă
hội của nó.
Khi những chính phủ
phương Tây cắt bỏ chi phí để giảm thâm hụt ngân sách, và quay
lưng lại với phúc lợi xă hội, kiến trúc phục vụ phúc lợi đă
thể hiện sự dễ dàng suy sụp một cách đáng ngạc nhiên. Về mặt
thời gian, sự sụp đổ này là để dẫn đến giai đoạn thứ ba, và
cũng là cuối cùng của kiến trúc trong thế kỷ 20 trong h́nh
dáng mới với tên gọi thời kỳ hậu - Hiện Đại.
Con đường đầu tiên
và quan trọng nhất để thoát khỏi con tầu đắm của Chủ Nghĩa
Hiện Đại là học cách từ bỏ những nguyên tắc tuyệt đối của quá
khứ. ư này được diễn đạt một cách xúc tích trong một bài chính
của tờ The Times được xuất bản năm 1981: "Điều mà một toà nhà
cần nhất để dành được t́nh cảm của công chúng là phải tồn tại
một thời gian dài. Điểm này th́ khó mà đạt được với sự xây
dựng mới". Đúng là khó, nhưng không phải là không thể. Vào
giữa những năm 1980 phong trào văn hoá Di Sản mới đă có được
tiếng nói. Những nhóm quan sát t́nh nguyện được tổ chức theo
một hệ thống chặt chẽ có được đại diện ở những cấp cao nhất
trong chính phủ.
ở nước Anh có 20000
kiến trúc sư, rất nhiều trong số này được đào tạo trong những
năm 60 khi họ được dạy rằng nhiệm vụ của họ là thiết kế “bề
mặt có tổ chức và mới trên trái đất”, đă từ bỏ những kế hoạch
cũ của họ và không hề phản ứng lại. Tính tổng cộng những tổ
chức bảo tồn này đă tiêu hàng trăm triệu bảng Anh cho việc
phục chế và sửa chữa. Bên cạnh đó, có một thế hệ các kiến trúc
sư mới đang bắt đầu trưởng thành đă sẵn sàng cho việc thiết kế
theo những nguyên tắc của kiến trúc Cổ Điển, như thể là Cách
Mạng Công Nghiệp và Phong Trào Hiện Đại chưa từng diễn ra. Nếu
ban đầu là vẫn mang tính bị động, nhưng ngay khi có sự hợp tác
một cách chủ động với thể chế của những người bảo thủ, đă h́nh
thành sự phát triển phong cách Hậu Hiện Đại mới trong thiết
kế. Sự nhanh chóng trở thành một “phong trào” của xu thế này
th́ không phải là kết quả từ việc hành nghề kiến trúc. Mà nó
h́nh thành từ những nghiên cứu, và những giảng đường ở các
trường kiến trúc mà ở đó các nhà tư tưởng kiến trúc ngày nay
bị thúc bách để "phát minh" ra những phong trào để thăng tiến
nghề nghiệp. Việc này không khác ǵ việc những người thợ mỏ và
thợ đánh cá thăng tiến dựa vào số lượng sản phẩm. Ngày bắt đầu
của chủ nghĩa hậu - Hiện Đại trong kiến trúc th́ không thật rơ
ràng. Một số tin tưởng rằng nó được báo trước với hàng cột Cổ
Điển đỡ sảnh được thiết kế bởi Berthold Lubetkin (1900-1991)
cho khu căn hộ “Highpoint” ở London năm 1938. Khu căn hộ này,
ngoài hàng cột cổ điển ra, th́ đúng là hiện đại đến hết mực.
Nhưng những nhà lịch sử kiến trúc hàng đầu không đồng ư với
cách nh́n này. Nikolaus Pevsner, viết năm 1966, đă cho rằng
toà nhà Royal College of Physicians thiết kế bởi Denys Lasdun
ở Regent Park là công tŕnh hậu hiện đại đầu tiên. Charles
Jencks, một nhà phân tích phong cách hậu hiện đại thuyết phục
nhất, đă cho rằng hậu - Hiện Đại bắt đầu khi Chủ Nghĩa Hiện
Đại chấm dứt trong năm 1977. Theo cách nh́n của Jencks, nó bắt
đầu với sự phá bỏ dự án nhà ở cao tầng Pruitt Igoe ở Saint
Louis nổi tiếng về những tệ nạn xă hội vào tháng 15 tháng 7
năm 1972. Sự khác nhau về ngày bắt đầu của Hậu Hiện Đại này
cũng là một đặc điểm. Theo một vài cách nh́n, nó giống như
những nghi ngờ vẫn c̣n về tính nguyên bản, vấn đề mà đă ám ảnh
rất nhiều những bức tranh nổi tiếng thế giới.
Theo trường hợp nào
đi nữa, những triển vọng cho hậu - Hiện Đại trong kiến trúc
được đồng ư thống nhất một cách nhanh hơn là nguồn gốc của nó.
Một số kiến trúc sư theo trường phái Hậu - Hiện Đại đă thể
hiện sự nhanh nhậy trong việc thu hút sự ủng hộ của công chúng
và khách hàng, và tiếp tục nhận được những dự án lớn: đáng chú
ư là James Stirling, Micheal Graves và Terry Farrell. Nhưng
một số khác dường như đă không thể làm hài ḷng với những
người lănh đạo đầy quyền lực và càng ngày càng có sự phân biệt
của sự bảo tồn và vận động cho sự phục hưng Cổ Điển. Đối với
những nhân vật này, những không gian xây dựng như là một viện
bảo tàng cho những toà nhà Georgian đan xen với những công
viên khoa học công nghệ cao là sản phẩm bán được. Sự hoài cổ
trong thiết kế hậu - Hiện Đại có thể đi xuống đến mức mà thậm
chí một nhà phê b́nh hiểu biết nhất nh́n thấy không một sự
phản đối nào đối với những đầu cột Corithian và tường gạch lớn
đứng cạnh nhau ở trong cùng một kết cấu - hoặc là “nhiều cửa
sổ Venetian hơn toàn bộ Vicenza" như là Philip Johnson (6) đă
nói một cách tự hào về tổ hợp International Place khổng lồ ở
Boston. Nhưng để cuối cùng, kẻ thù lớn nhất của hậu - Hiện Đại
trong kiến trúc không phải là tương lại mà chính là quá khứ.
Trong toà nhà, như là được kịch hoá trên TV, những khán giả
với niềm hoài cổ th́ thích những bản sao giống hệt từ những
công tŕnh cổ điển. Cổ Điển Phục Hưng và chủ nghĩa Hậu Hiện
Đại là hai con đường trốn chạy từ chủ nghĩa Hiện Đại: con
đường thứ ba là “ Kỹ Thuật Cao (High Tech)”. Thuật ngữ này có
nguồn gốc là cách mô tả cho những trang trí nội thất dựa trên
sự sử dụng những h́nh ảnh lớn có màu sắc sặc sỡ được sơn lên
tường, bánh xe ô tô hợp kim dùng làm bàn, đèn công nhiệp và
trang trí kiểu nhà kho, và các đồ dùng không mang tính gia
đ́nh ở Mỹ vào giữa những năm 1970s. Sau đó, thuật ngữ này đă
vượt Đại Tây Dương để mô tả kiến trúc với cấu trúc mang tính
biểu hiện cao và nhẹ nhàng. Nó đă nối tiếp phong cách sử dụng
khung thép nặng nề của Mies van der Rohe. Nổi bật ở Anh bởi
CLASP (7) hệ thống trường học tiền chế, kiến trúc này lúc đầu
cũng được gọi là “Hiện Đại”. Nhưng với sự gia tăng trong việc
sử dụng các hợp kim nhẹ và bền, và những bộ phận composite,
thuật ngữ mới “Kỹ Thuật Cao” dường như thích hợp hơn. Hơn thế
, cái tên mới này không bị ảnh hưởng bởi sự thất bại của chủ
nghĩa Hiện Đại. Một lần nữa việc xác định ngày chuyển giao từ
kiến trúc hiện đại sang “Kỹ Thuật Cao” là khó khăn. Một cái
nh́n thoáng qua vào siêu cấu trúc của bất kỳ tầu chiến nào của
thế kỷ 20 đều có h́nh ảnh của clip-on modules của một dàn
khoan dầu, và cũng như vậy, có h́nh ảnh mái của nhà máy Inmos
(8) thiết kế bởi Richard Rogers, nếu mà không phải là những
tháp phục vụ của toàn nhà Lloyd.
Cũng như thiết kế
siêu cấu trúc của tầu chiến, giống như cây cầu của tầu chiến
HMS Belfast (1938), với những bề mặt sau hoàn thiện được để
trần và để lộ sàn phục vụ, giống với nhiều công tŕnh thuộc
trường phái “Kỹ Thuật Cao”. Người đầu tiên của phong trào này
có thể là Gunnar Asplund (9), với những cấu trúc nhẹ cho triển
lăm Stockholm năm 1930, hay là những công tŕnh tạm với những
cấu trúc kiểu cột buồm thiết kế bới Geore Fred Keck ở trong
những năm trước Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai.
Nói chung, được xem
như là phong cách đại diện của Chủ Nghĩa Hiện Đại, kiến trúc
“Kỹ Thuật Cao” đă có một ví trí khá đặc biệt. ở Anh, nó gắn
liền với những công tŕnh của Sir Norman Foster (10), Sir
Richard George, Nicholas Grimshaw và một số kiến trúc sư trẻ
khác. Vào những năm 1980, thành công của những kiến trúc sư
này đă dẫn đến việc kiến trúc “Kỹ Thuật Cao” được nghĩ như là
“Phong Cách Anh”.
Xem xét hết những
điểm trên, có thể là đúng khi nói rằng thời kỳ Hậu Hiện Đại, ở
thời đại hiện tại, được đánh dấu bởi sự đa dạng, không phải là
sự duy nhất, như những năm truớc 1914, hay là sự đối chọi, như
những năm giữa hai cuộc chiến 1919 – 1939. Không có một lư
thyết duy nhất cho thời kỳ hiện tại. Như là cái tên của nó đă
ngụ ư một phần nào đó, thời kỳ Hậu Hiện Đại của chúng ta là
một thời kỳ mà trong đó tất cả những xu thế trước đây cùng tồn
tại (một cách không dễ dàng). Cuối của thế kỷ 20, đă có thể
nhận diện được một hệ tư tưởng khác với tiềm năng có tầm ảnh
hưởng như Phong Trào Hiện Đại. Hệ tư tưởng này là một lư
thuyết đang phát triển, cho tới nay vẫn chưa có một cuộc tranh
luận có giá trị.
H́nh dáng kiến trúc
nên xuất phát từ sự hoà ḿnh với những điều kiện bắt buộc về
môi trường và động lực mang tính toàn cầu mà quyết định sự
sinh tồn của loài người, chứ không phải là từ quá khứ hay là
công năng. Hiện tại, những h́nh thức kiến trúc từ những ảnh
hưởng nói trên, hoặc những lời phát ngôn mang tính tư tưởng về
mặt định nghĩa sẽ tiếp tục không rơ ràng.
Nguyên tác tiếng Anh: Martin Pawley
“The Post-Modern Age 1974 – 2000” in 20th Century
Architecture: A reader"s guide.
Bùi Vi Dương (dịch) theo ashui.com
Trung tâm Thông tin - Thư viện |